Vào cuối thời nhà Minh, có một vị tăng nhân pháp danh là “Thập Lực”. Năm Sùng Trinh Tân Tỵ (năm 1641 Tây lịch), ông truyền pháp tại chùa Quang Hiếu ở Quảng Châu. Có hai người tiều phu (người đốn củi) ở địa phương có mối quan hệ khá tốt với hòa thượng Thập Lực, lúc rảnh rỗi họ thường cùng nhau trò chuyện.
Hai người tiều phu này tuy chỉ làm nghề đốn củi nhưng lại biết chữ, từng đọc qua chút sách vở, nên khá hứng thú với đại sự trong thiên hạ. Trong một lần trò chuyện, hai tiều phu thao thao bất tuyệt đưa ra nhận định về cục diện rối ren vào cuối thời Minh, cũng như sự mạnh yếu của binh tướng bốn phương. Lúc này, hòa thượng Thập Lực nói với họ: “Hai vị không biết đại thế hưng phế của thiên hạ, nói đi nói lại thì có ích gì chứ?” Hai tiều phu bèn hỏi ông nguyên nhân của sự hưng phế trong thiên hạ, ông trả lời: “Triều Minh hiện nay là ‘bè đảng làm loạn tại triều đình, trộm cướp làm loạn ngoài dân gian, đại sự đã đi rồi'”.
Hai người tiều phu nghe vậy thì thấy hứng thú, bèn hỏi thêm: “Hiện nay các cánh quân dưới quyền Lý Tự Thành đã rải khắp các nơi, quân số đông thì lên tới hàng chục vạn, ít cũng không dưới bốn, năm vạn, hiện đã chiếm được Hà Nam, Thiểm Tây. Nghe nói ông ta dã tâm bừng bừng còn muốn chiếm đóng Bắc Kinh, tự mình làm Hoàng đế đấy! Hiện nay lòng dân bất ổn, nghe nói ngay cả một số quan lớn cũng bí mật đầu quân cho Lý Tự Thành, làm nội ứng cho ông ta. Liệu người thay thế triều Minh, lập nên triều đại mới có phải là những người như Lý Tự Thành không?”
Hòa thượng Thập Lực nghe xong bèn nói: “Không phải Lý Tự Thành. Hiện nay trời giáng tai họa loạn lạc, dân chúng lầm than, nên Lý Tự Thành mới có thể hung hăng càn quấy nhất thời. Tuy nhiên, nhân dân Trung Quốc ta rốt cuộc vẫn sẽ gắn bó từ đầu đến cuối với vị quân chủ thừa hưởng ý Trời để cai trị Trung Quốc. Nhật nguyệt đã lặn, tuy có ngọn đuốc nhỏ, cũng chẳng thể dùng ánh sáng yếu ớt mà tự tồn tại. Còn về phần Lý Tự Thành, ông ta càng không có cái mệnh đó!”
Hai người tiều phu càng thêm tò mò, hỏi: “Rốt cuộc ai sẽ đắc được thiên hạ?”
Hòa thượng Thập Lực đáp: “Người có Thiên mệnh sẽ đắc được thiên hạ, lão tăng không kịp nhìn thấy đâu, đến lúc đó các vị tự nhiên sẽ biết, bần tăng không thể nói nhiều thêm nữa.”
Sau đó, đến tháng 8 năm Sùng Trinh Quý Mùi (năm 1643 Tây lịch), hòa thượng Thập Lực ngồi đả tọa viên tịch tại La Phù, Quảng Đông. Năm sau đó đã xảy ra đại sự thay đổi triều đại từ Minh sang Thanh. Con trai của Phúc Vương triều Minh là Chu Do Tung xưng đế ở Nam Kinh, lấy niên hiệu là “Hoằng Quang”. Tuy nhiên, chính quyền Hoằng Quang này cũng bị nhà Thanh tiêu diệt không lâu sau đó.
Lúc này mọi người mới phát hiện những lời hòa thượng Thập Lực nói đều đã ứng nghiệm: Niên hiệu của người sáng lập triều Thanh là Thanh Thái Tổ Ái Tân Giác La • Nỗ Nhĩ Cáp Xích chính là “Thiên Mệnh”, ứng nghiệm với câu “Người có Thiên mệnh sẽ đắc được thiên hạ”; hòa thượng Thập Lực đã viên tịch vào năm 1643, câu nói “Lão tăng không kịp nhìn thấy đâu” cũng đã được ứng nghiệm.
Ngoài ra, từ “cước hỏa” (爝火) ý chỉ ngọn lửa nhỏ. Trong “Trang Tử • Tiêu Dao Du” có câu: “Nhật nguyệt xuất hĩ, nhi cước hỏa bất tức” (Mặt trời mặt trăng đã mọc rồi, mà ngọn đuốc vẫn chưa tắt). Hòa thượng Thập Lực mượn câu này nhưng nói ngược lại là “Nhật nguyệt ký một, tuy hữu cước hỏa, thượng bất năng dĩ vi quang tự tồn” (Nhật nguyệt đã lặn, tuy có ngọn đuốc nhỏ, cũng chẳng thể dùng ánh sáng yếu ớt mà tự tồn tại), chính là tiên tri chính quyền Nam Minh Hoằng Quang nhất định sẽ đoản mệnh: Ở đây “Nhật nguyệt” (chữ Nhật 日 và chữ Nguyệt 月 ghép lại thành chữ Minh 明) ám chỉ triều Minh, còn “vi quang” (ánh sáng yếu ớt) ám chỉ chính quyền Nam Minh Hoằng Quang.
Kỳ thực, thế cục thiên hạ là có định số, là do Thượng Thiên an bài, sức người không thể kháng cự nổi. Vì vậy hòa thượng Thập Lực mới có thể biết trước, và thông qua cách nói ẩn ý để nói cho người tiều phu, lưu lại cho hậu thế câu chuyện thần kỳ này.
Theo Vision Times