Tác giả: Tiết Trì

Nguyên văn: Tử viết: 「Quân tử thực vô cầu bão, cư vô cầu an, mẫn ư sự nhi thận ư ngôn, tựu hữu đạo nhi chính yên, khả vị hiếu học dã dĩ.」 (Luận Ngữ, thiên Học Nhi, chương 14)

Khổng Tử nói: “Người quân tử ăn không cầu no, ở không cầu yên, nhanh nhẹn trong công việc mà cẩn trọng trong lời nói, tìm đến người có đạo để sửa mình. Như vậy có thể gọi là người hiếu học vậy.”

【Chú thích】

  • Mẫn (敏): Các sách chú giải truyền thống giải là “tật” (疾), tức là nhanh.
  • Chính (正): Uốn nắn, sửa cho ngay thẳng.

【Bàn luận】 Xưa nay, người được xem là hiếu học có lẽ không nhiều. Trong sách 《Luận Ngữ》, người được gọi là “hiếu học” chỉ có ba vị. Một là chính Khổng Tử: “Thập thất chi ấp, tất hữu trung tín như Khâu giả yên, bất như Khâu chi hiếu học dã” (Ở một ấp mười nhà, ắt có người trung tín như Khâu này, nhưng không bằng Khâu ham học). Một là Nhan Hồi, người học trò đắc ý nhất của Khổng Tử: “Bất thiên nộ, bất nhị quá, bất hạnh đoản mệnh tử hĩ” (Không trút giận sang người khác, không lặp lại lỗi lầm, chẳng may mệnh ngắn mà qua đời). Vị còn lại là đại phu nước Vệ, Khổng Văn Tử: “Mẫn nhi hiếu học, bất sỉ hạ vấn” (Thông minh mà ham học, không thẹn hỏi kẻ dưới).

Vậy, thế nào mới được gọi là “hiếu học”? Chương này nói về ba điều.

Thứ nhất, “Thực vô cầu bão, cư vô cầu an” (Ăn không cầu no, ở không cầu yên). Ăn cầu no, ở cầu yên, đó là bản năng của con người. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, khi không được ăn no, ở không được yên, bạn sẽ làm thế nào? Đối với người quân tử hoặc người có chí làm quân tử, vì một lòng theo đuổi chí hướng của mình nên không màng đến ăn no, chẳng bận tâm đến chốn ở yên ổn. Nếu một người coi việc ăn no, ở yên là chuyện quan trọng hàng đầu, thì liệu còn có thể có chí lớn như chim hồng, chim hộc không? Con người chỉ chia làm hai loại, là người có chí và người vô chí. Để phán đoán một người có chí hướng hay không, chỉ cần xem họ có thể “ăn không cầu no, ở không cầu yên” được không.

Có một tấm gương điển hình. Chu Công là “con của Văn Vương, em của Võ Vương, chú của Thành Vương”, thân phận chí cao chí quý, thế nhưng một lần gội đầu phải nắm tóc lên ba lần, một bữa ăn phải nhả cơm ra ba lần (“nhất mộc tam tróc phát, nhất phạn tam thổ bộ”). Vì sao vậy? Ấy là để “đứng dậy tiếp đãi sĩ phu, còn sợ bỏ lỡ bậc hiền tài trong thiên hạ.” Vì thế, Khổng Tử vô cùng khâm phục Chu Công và thường xuyên mơ thấy ông.

Thứ hai, “Mẫn ư sự nhi thận ư ngôn” (Nhanh nhẹn minh mẫn trong công việc mà cẩn trọng trong lời nói). Cổ văn cô đọng, nội hàm phong phú, bạch thoại hiện đại rất khó diễn đạt lại cho tương xứng hoàn toàn. Thế nào gọi là “mẫn ư sự”? Đại khái có mấy tầng ý nghĩa sau. Một là nhạy bén, mắt thấy được việc, tâm nghĩ được việc, có khả năng quan sát tinh tế. Nếu là người qua loa đại khái hoặc tự cho mình là cao thì rất khó thấy được việc. Hai là siêng năng, làm việc nhanh gọn, không đùn đẩy, không lười biếng, không dây dưa kéo dài. Ba là nhanh nhạy, có thể nhanh chóng phán đoán sự việc và lập tức bắt tay vào làm, điều này thực sự thử thách học vấn và kinh nghiệm. Hơn nữa, còn phải “mẫn ư sự” trong hoàn cảnh “ăn không cầu no, ở không cầu yên”, bao gồm tất cả trách nhiệm, tất cả những việc nên làm, đều phải nhanh nhẹn – làm ngay lập tức.

Tương đối mà nói, trên thế gian này người “mẫn ư sự” không ít, nhưng người vừa “mẫn ư sự” lại vừa có thể “thận ư ngôn” (cẩn trọng trong lời nói) thì e rằng không nhiều. Nói nhiều tất có sai sót. Từ xa xưa, người Trung Hoa đã rất coi trọng việc “thận ngôn”. Sách 《Khổng Tử Gia Ngữ – Quan Chu》 có ghi chép rằng, Khổng Tử đến nước Chu, quan sát thái miếu, phía trước bậc thềm bên phải có một người bằng vàng. Miệng người vàng bị khâu ba lớp, sau lưng có khắc minh văn (tương truyền là “Kim Nhân Minh” của Hoàng Đế). Khổng Tử đã bảo học trò phải “ghi nhớ lấy”, chớ vì lời nói mà rước họa vào thân.

Thứ ba, “Tựu hữu đạo nhi chính yên” (Tìm đến người có đạo để sửa mình). “Hữu đạo” là người có đạo đức hoặc đạo nghệ. Trong xã hội này, con người muôn hình vạn trạng, có tốt có xấu, giống như một thùng thuốc nhuộm lớn. Một người có chí hướng, một mặt phải lựa chọn môi trường mình sống (“Trạch bất xử nhân, yên đắc tri” – Chọn nơi ở mà không có lòng nhân, sao gọi là trí được); mặt khác phải “phiếm ái chúng nhi thân nhân” (yêu thương khắp mọi người mà gần gũi người nhân đức), tìm đến người có đạo để uốn nắn bản thân mình.

Nếu một người làm được ba điều trên thì có thể được gọi là “hiếu học”. Rõ ràng, “hiếu học” ở đây là sự hợp nhất giữa hiểu biết và hành động (tri hành hợp nhất), là cách đối nhân xử thế trong cuộc sống hiện thực, là sự trưởng thành toàn diện cả về thân và tâm của một con người, là sự siêu thoát khỏi ham muốn vật chất để không ngừng thăng hoa về mặt tinh thần.

Về “hiếu học”, trong các thiên Dương Hóa và Tử Trương sau này, Khổng Tử còn có những luận giải khác, cần phải thông suốt để hiểu rõ.

Tài liệu tham khảo chính:

  • 《Luận Ngữ Chú Sớ》 (bản có dấu câu Thập Tam Kinh Chú Sớ, Lý Học Cần chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh)
  • 《Tứ Thư Trực Giải》 (Trương Cư Chính, Nhà xuất bản Cửu Châu)
  • 《Luận Ngữ Tân Giải》 (Tiền Mục, Nhà xuất bản Tam Liên)
  • 《Luận Ngữ Dịch Chú》 (Dương Bá Tuấn, Nhà xuất bản Trung Hoa Thư Cục)
  • 《Luận Ngữ Tam Bách Giảng》 (Phó Bội Vinh, Nhà xuất bản Liên hợp Bắc Kinh)
  • 《Luận Ngữ Dịch Chú》 (Kim Lương Niên, Nhà xuất bản Cổ tịch Thượng Hải)
  • 《Luận Ngữ Bản Giải (bản hiệu đính)》 (Tôn Khâm Thiện, Nhà xuất bản Tam Liên)
  • 《Phàn Đăng Giảng Luận Ngữ: Học Nhi》 (Phàn Đăng, Nhà xuất bản Liên hợp Bắc Kinh)

Theo Epoch Times