Có một câu nói rằng: “Thiện ác chỉ trong một niệm.” Thực tế, ngay trong khoảnh khắc của một niệm thiện hay ác ấy, số phận của con người đã xảy ra biến hóa. Bởi lẽ “trên đầu ba thước có thần linh”, gieo nhân nào thì gặt quả nấy.
Vào thời cuối nhà Thanh đầu thời Dân quốc có một kỳ nhân tên là Ngụy Húc, tự Thiết San, hiệu Bào Công, Long Tàng cư sĩ… người Sơn Âm, Chiết Giang. Năm Quang Tự thứ 11 (năm 1885), ông đỗ Cử nhân, từng giữ chức văn án cho Lưỡng Quảng Tổng đốc Đàm Chung Lân, sau đó đến Bắc Kinh. Năm 1906, ông chuyển đến Thiên Tân cư trú. Sau Cách mạng Tân Hợi, ông ở ẩn không ra làm quan. Năm 1927, ông qua đời vì bệnh.
Cuộc đời của Ngụy Húc mang đậm màu sắc huyền thoại. Ông không chỉ là người “thông hiểu sử sách, không gì không xem, có thể làm thơ thời trung vãn Đường, văn chương thời Tống Minh, đặc biệt tinh thông từ khúc”, mà còn là một nhà thư pháp bậc thầy. Thư pháp của ông theo phong cách Bắc Ngụy, có thể viết chữ tiểu khải nhỏ như hạt gạo, các loại chữ đại triện, tiểu triện, lệ thư, chung đỉnh ông đều tinh thông. Chữ viết theo lối Ngụy bi của ông lừng lẫy một thời tại vùng Kinh Tân, từng được xếp ngang hàng với tông sư phái bi học Lý Thụy Thanh.
Một người tài hoa như vậy, tính cách cũng rất thú vị. Ngụy Húc rất hùng biện, thích uống rượu, am hiểu từ bói toán đến các trò tạp kỹ, lại giỏi đàn cổ tranh, tỳ bà, kéo hồ cầm, thổi sáo và hát Côn khúc.
Thuở thiếu thời, khi cùng cha du ngoạn vùng Quảng Đông, Quảng Tây, ông gặp được một dị nhân truyền dạy quyền pháp. Nhờ đó võ nghệ của ông rất cao cường, mười mấy tuổi đã nổi danh nhờ quyền thuật, tính tình hào hiệp, có tiếng là “thần dũng”, sở trường nhất là thất tiết tiên (roi bảy đốt) và bích hổ công.
Khi ở Kim Điền, Quảng Đông, nhờ thân thủ dị thường có thể nhẹ nhàng nhảy lên lầu cao hai trượng, ông được các hào khách địa phương tôn làm thủ lĩnh. Một ngày nọ, vì giúp người đánh nhau trên phố nên ông bị kiện đến chỗ cha mình. Cha ông nổi giận lôi đình, trách mắng nghiêm khắc. Ngụy Húc quỳ trước mặt cha, tự chặt một ngón tay và thề sẽ không hành động phóng túng nữa. Từ đó ông bắt đầu chuyên tâm đọc sách, chuẩn bị thi cử.
Năm 1882, ông từ Lưỡng Quảng trở về Chiết Giang để tham gia kỳ thi mùa thu. Khi đó nhạc phụ của ông là Trần Lộc Sênh đang trấn thủ tại Hồ Châu, Ngụy Húc liền đến thăm. Ở quận Hồ Châu có một người tên Quảng Văn rất giỏi xem tướng. Trần Lộc Sênh mời người này xem văn chương và xem tướng cho con rể để biết liệu có đỗ đạt hay không.
Sau khi xem xong, Quảng Văn nói: “Tướng mạo của lệnh lang không bằng văn chương, cần phải đề phòng tai bay vạ gió. Hãy khuyên anh ta thu liễm tính cách. Còn về khoa cử thì không có hy vọng gì.” Quả nhiên năm đó thi thu, Ngụy Húc trượt bảng vàng.
Thất vọng, Ngụy Húc lại quay về phương Nam, lần này tới Quế Lâm. Tại đây, ông sống phóng túng, thường uống rượu giải sầu. Có một cụ bà họ Thích không ưa cách sống của Ngụy Húc, thường xuyên đem khuyết điểm của ông kể cho người khác nghe khiến ông rất tức giận. Một đêm nọ, ông mang theo hỏa dược định đến đốt trụi nhà bà lão để trả thù.
Nhà bà Thích nằm sát bờ sông, xung quanh đều là nhà của những người dân nghèo dựng bằng ván gỗ. Nhìn thấy cảnh đó, Ngụy Húc thở dài: “Bà lão tuy đáng ghét, nhưng những người dân vô tội kia có tội tình gì? Ta không nỡ để ngọc đá đều cháy (ngọc thạch câu phần).” Tuy vậy, ông vẫn quyết định vào gặp trực tiếp bà lão để nói rõ.
Ông gõ cửa nhà bà Thích, đưa hỏa dược cho bà xem và nói rõ dự định ban đầu cũng như quyết định hiện tại của mình. Bà lão vô cùng hổ thẹn, trực tiếp tạ lỗi với ông. Chuyện này cũng nhờ đó mà kết thúc.
Năm 1885, Ngụy Húc một lần nữa trở lại Hàng Châu, Chiết Giang dự thi. Thật trùng hợp, Quảng Văn cũng đưa thí sinh đến Hàng Châu và gặp lại Ngụy Húc. Quảng Văn lộ vẻ kinh ngạc nói: “Tướng mạo của anh đã thay đổi rồi, không chỉ tai họa tiêu tan mà còn sắp đỗ Cử nhân. Rốt cuộc anh đã làm việc thiện gì?” Ngụy Húc liền kể lại chuyện mình từ bỏ ý định đốt nhà dân nghèo trong một niệm.
Quảng Văn nghe xong liền nói: “Chính một niệm bảo toàn mạng sống cho bao nhiêu người đó đã thay đổi vận mệnh của anh.”
Năm đó, Ngụy Húc quả nhiên đỗ Cử nhân. Từ đó về sau ông bắt đầu thu liễm tính tình kiêu ngạo, sống thọ hơn 60 tuổi.
Thời Dân quốc, chính khách Bắc Dương là Tào Nhữ Lâm rất thân thiết với Ngụy Húc, hai người thường cùng uống rượu tại tửu điếm Thái Căn Hương. Sau khi cha qua đời, Tào Nhữ Lâm đã mời Ngụy Húc viết văn bia cho cha mình. Tào Nhữ Lâm đánh giá ông rất cao, cho rằng ông là người “văn võ song toàn, kỹ nghệ thượng thừa, đúng là một kỳ nhân”.
Đây đúng là “một niệm ác thì lệ khí theo sát, một niệm thiện thì lệ khí tiêu tan mà thiện khí ứng nghiệm”, sự cảm ứng này còn nhanh hơn cả tiếng vang theo sau hình ảnh. Đối với thần minh, con người sao có thể không giữ lòng kính sợ?
Theo Vision Times