Vạn Lý Trường Thành là một công trình phòng thủ quân sự vĩ đại của Trung Quốc cổ đại. Với sự uy nghi, hùng vĩ, khí thế bừng bừng và thu hút sự chú ý của toàn thế giới, nó đã trở thành biểu tượng của dân tộc Trung Hoa. Tuy nhiên, ít ai biết rằng trên vùng đất Yến Nam thuộc đồng bằng Ký Trung, có một công trình “Trường Thành dưới lòng đất” được xây dựng với quy mô có thể sánh ngang với Vạn Lý Trường Thành ── đó chính là địa đạo cổ dưới lòng đất thời Tống – Liêu.

Địa đạo cổ dưới lòng đất thời Tống – Liêu còn được gọi là địa đạo biên quan Tống – Liêu, nằm ở vùng đồng bằng thuộc địa phận huyện Hùng (thành phố Bảo Định), huyện Vĩnh Thanh (thành phố Lang Phường) và thành phố Bá Châu. Đây là hệ thống công trình quân sự nằm gần đường biên giới giữa hai nước Tống và Liêu.

Đường chiến đạo giấu quân để ngự địch

Trong địa phận huyện Hùng, những đoạn địa đạo hiện đã được xác định bao gồm địa đạo thôn Kỳ Bản (xã Song Đường) và địa đạo gò đại đài thôn Hình (trấn Hùng Châu). Gian hầm lớn nhất có chiều dài 8 mét, rộng 3 mét, cao 3 mét; nơi thấp nhất của lối đi hầm (dũng đạo) chỉ cao 0,6 mét. Theo ghi chép trong “Hùng Huyện Chí”, địa đạo này dẫn từ Hùng Châu đến thành Bá Châu, khoảng cách giữa hai thành là 35 km. Do chưa được khảo sát và khai quật toàn bộ nên tổng chiều dài của địa đạo vẫn chưa rõ ràng. Đoạn địa đạo tại khu vực Kỳ Bản đã được khai quật và phục dựng dài 30 mét. Đoạn địa đạo gò đại đài thôn Hình rộng 1,2—2 mét, cao 1,65 m; các lối đi hầm và chướng đạo bậc thang rộng 0,46—0,65 mét, cao 1,25 mét, hiện đã khai quật và phục dựng được hơn 200 mét.

Dựa vào cấu trúc, hướng đi của địa đạo và các hiện vật được khai quật, bước đầu có thể xác định công trình này có ba công dụng chính về mặt quân sự: Một là trú ẩn và chuyển quân; hai là chuyển giao tình báo một cách nhanh chóng; ba là giám sát tình hình địch bằng nguyên lý âm học. Tại địa đạo cổ này, người ta từng khai quật được các hiện vật như hũ gốm men tương, đạn tròn, mũi tên sắt, v.v.

Công sự vĩnh cửu – ngàn năm không sập

Hệ thống địa đạo cổ này có sự khác biệt rất lớn so với địa đạo được sử dụng để kháng cự quân xâm lược Nhật trên đồng bằng Ký Trung thời kỳ Kháng chiến. Mặc dù cả hai đều là địa đạo chiến đấu, có cấu trúc bên trong tương đối phức tạp và đều có các công trình quân sự như mê cung hầm chật hẹp, lối đi mê cung có chướng ngại vật, ván lật, cửa sập, v.v. Tuy nhiên, điểm khác biệt rõ ràng giữa chúng nằm ở chỗ:

  1. Trong địa đạo thời kỳ Kháng chiến, ngoại trừ nhà vệ sinh ra thì hầu như không có cơ sở sinh hoạt nào khác; trong khi đó, ở địa đạo cổ lại có đầy đủ các tiện ích sinh hoạt như lỗ thông khí, bệ đèn, hũ tích nước, giường đất (thổ khang), v.v.
  2. Toàn bộ địa đạo được xây dựng trong thời kỳ Kháng chiến không có một đoạn nào được lát bằng gạch, ngược lại, địa đạo cổ hoàn toàn được xây lát bằng gạch đá. Điều này chứng minh rằng địa đạo thời Kháng chiến là một loại nơi ẩn nấp hoặc công trình chiến đấu mang tính tạm thời, mỗi lần người dân đi vào không lâu nên không cần nhiều thiết bị sinh hoạt. Trong khi đó, địa đạo cổ rõ ràng được thiết kế để mọi người có thể cư trú trong thời gian dài bên trong.

Về phương pháp xây dựng, địa đạo cổ được thực hiện bằng cách đào các đường hào trên mặt đất trước giống như đào móng nhà, với các độ sâu, hình dạng, kích thước khác nhau, uốn lượn quanh co và hướng đi không cố định. Sau đó, người ta lát gạch ở dưới đáy, cẩn gạch ở hai bên thành, dùng gạch xây vòm cuốn ở phía trên, cuối cùng lấp đất lên trên vòm cuốn, nện chặt và ngụy trang lại. Để xây dựng một hệ thống địa đạo như vậy đòi hỏi phải nung rất nhiều gạch, tốn kém khổng lồ về cả nhân lực lẫn vật lực. Nếu không có sự tổ chức thống nhất từ chính quyền thì chỉ dựa vào sức lực của người dân thường là không thể hoàn thành được. Địa đạo cổ giống như một công sự vĩnh cửu, trải qua hàng trăm năm cho đến cả ngàn năm mà không bị đổ sập hay hư hại.

Qua cuộc điều tra khai quật vào năm 1988 đã xác định được: Địa đạo cổ tại huyện Vĩnh Thanh liên quan đến 11 ngôi thôn thuộc 6 xã trấn, với diện tích phân bố lên tới hơn 300 km vuông. Nó không chỉ có phạm vi phân bố rộng lớn mà còn có một bố cục vô cùng chặt chẽ. Lấy Nam Quan làm điểm khởi đầu, địa đạo chia làm hai tuyến chính kéo dài về hai hướng đông nam và tây nam, tựa như một con chim phượng hoàng tung cánh: một cánh chỉ thẳng đến trấn Tín An (tức Ải Ứ Khẩu cổ), cánh còn lại hướng về trấn Bá Châu (tức Ải Ích Tân cổ). Cấu trúc của các đường hầm phân bố theo không gian ba chiều, nơi nông nhất cách mặt đất chưa đầy một mét, nơi sâu nhất đạt tới năm mét. Chiều cao và chiều rộng của các đường hầm không đồng đều, uốn lượn quanh co, hướng đi định vị linh hoạt. Vật liệu xây dựng đều là những viên gạch xanh cỡ lớn có kích thước 30×16×18 cm.

Các chuyên gia và học giả đều thống nhất cho rằng, địa đạo cổ là một công trình quân sự ngầm quy mô lớn, mang tính vĩnh cửu, được quân và dân thời xưa lên kế hoạch kỹ lưỡng và xây dựng dưới sự lãnh đạo, tổ chức thống nhất. Đây cũng là một công trình đồng bộ để ngự địch nơi biên quan. Trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt, tác dụng của nó mang lại không hề kém cạnh so với Vạn Lý Trường Thành, xứng danh là “Trường Thành dưới lòng đất”.

Tại sao địa đạo cổ được xây dựng?

Theo các nghiên cứu, mục đích của việc xây dựng địa đạo cổ này là để chống lại sự xâm lược của quân Liêu. Nó được nhà Tống tổ chức cho quân và dân xây dựng để phòng ngự quân Liêu, chứ không phải do quân Liêu tổ chức xây dựng. Bởi vì quân Liêu chủ yếu là kỵ binh, lấy vận động chiến làm phương thức tác chiến chủ đạo nên không cần thiết phải xây dựng địa đạo.

Hơn nữa, các tài liệu lịch sử ghi chép rằng, trong thời kỳ đối đầu giữa Tống và Liêu sau năm Hiển Đức thứ 7 (năm 960), vùng Vĩnh Thanh thuộc Bá Châu, là lãnh thổ của nước Tống nằm ở phía nam biên giới Tống – Liêu [Xem phần chính văn của tác phẩm “Đọc sử phương dư kỷ yếu” của Cố Tổ Vũ (năm 1631—1692), quyển 11 Bắc Trực nhị]. Nước Liêu cũng không thể đào địa đạo dùng cho phòng thủ ngay trên lãnh thổ của một quốc gia khác.

Vậy tại sao năm xưa nhà Tống lại muốn đào loại địa đạo mang tính phòng thủ này tại khu vực Vĩnh Thanh thuộc biên giới Tống – Liêu? Điều này phải kể từ thời Ngũ Đại. Ở Trung Quốc thời cổ đại, các cuộc xung đột giữa các dân tộc canh tác nông nghiệp ở Trung Nguyên và các dân tộc du mục ở phương bắc thường xuyên xảy ra. Vào năm 936 thời Ngũ Đại, Thạch Kính Đường của nhà Hậu Tấn để tạ ơn “phụ hoàng” là vua Khiết Đan đã trợ giúp mình lên ngôi hoàng đế, đã cắt nhượng mười sáu châu Yến Vân cho nước Liêu. Kể từ đó, đường ranh giới giữa dân tộc du mục và dân tộc nông nghiệp đã dịch chuyển từ tuyến Trường Thành, Tần Lĩnh xuống vùng đồng bằng Hà Bắc. Mười sáu châu Yến Vân đại khái tương đương với khu vực thành phố Bắc Kinh và phần phía bắc của Sơn Tây ngày nay. Khu vực Bắc Kinh vốn có dãy núi Thái Hành và núi Yến Sơn làm hiểm trở; sau khi cắt nhượng cho nhà Liêu, phía nam Bắc Kinh trở thành vùng đồng bằng bằng phẳng rộng 500 dặm hoặc 800 dặm, không có hiểm yếu để phòng thủ, khiến kỵ binh của nhà Liêu có thể tự do phi nước đại, dọc ngang ở nơi này.

Hậu Chu là triều đại cuối cùng của thời Ngũ Đại. Vị hoàng đế thứ hai của nhà Hậu Chu là Chu Thế Tông Sài Vinh đã dẫn quân Bắc phạt vào năm Hiển Đức thứ 6 (năm 959), thu phục được ba châu gồm Mạc Châu (nay là thành phố Nhậm Khâu, Hà Bắc), Oánh Châu (nay là Hà Gian, Hà Bắc), Dịch Châu (nay là huyện Dịch, Hà Bắc) cùng ba ải gồm Ngõa Kiều (nay là huyện Hùng, Hà Bắc), Ích Tân (nay là Bá Châu, Hà Bắc), Ứ Khẩu (nay là trấn Tín An, Bá Châu) thuộc mười sáu châu Yến Vân. Sau đó, nhà vua lấy Ải Ngõa Kiều để lập ra Hùng Châu, lấy Ải Ích Tân lập ra Bá Châu, và sau đó lấy Ải Ứ Khẩu lập ra quân Tín An. Lúc này, vùng Vĩnh Thanh cũng được thu phục theo và thuộc về Bá Châu.

Chuyển từ tấn công sang phòng thủ – Tuyến đầu của phòng tuyến phía Bắc

Vào năm Hiển Đức thứ 7 (năm 960), thủ lĩnh tối cao của cấm quân trước điện nhà Hậu Chu ── Điện tiền Đô điểm kiểm Triệu Khuông Dẫn đã tiến hành cuộc “Binh biến Trần Kiều, hoàng bào thêm thân”, trở thành hoàng đế khai quốc của nhà Tống. Sau khi thành lập chính quyền Bắc Tống, Triệu Khuông Dẫn định đô tại Khai Phong, dẹp yên các cuộc phản loạn của các phiên trấn Hậu Chu và phát động cuộc chiến tranh thống nhất đất nước. Ông qua đời sau khi tiêu diệt nhà Nam Đường (năm 978). Em trai ông là Triệu Quang Nghĩa lên ngôi, tiếp tục chinh chiến nam bắc, hoàn thành việc thống nhất phương nam và đánh bại chính quyền Bắc Hán ở phương bắc, cơ bản đạt được mục tiêu thống nhất.

Sau khi Bắc Hán diệt vong vào năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4 (năm 979), Tống và Liêu rơi vào thế đối đầu trực tiếp. Đường kiểm soát thực tế của hai bên đại khái là khởi đầu từ Nê Cô Khẩu (nay là Đại Cô Khẩu, Thiên Tân) ở phía đông, chạy dọc theo lưu vực sông Cự Mã qua Tín An (nay là phía đông huyện Bá, Hà Bắc), Bá Châu, Dung Thành (nay là huyện Dung Thành, Hà Bắc), rồi hướng về phía tây đến phía nam Phi Hồ (nay là Lai Nguyên, Hà Bắc) và Linh Khâu (nay là Linh Khâu, Sơn Tây), thẳng tới Nhạn Môn thuộc Đại Châu (nay là phía bắc huyện Đại, Sơn Tây). Phía bắc của ranh giới này là vùng Yến Vân do Liêu kiểm soát, phía nam là vùng do Bắc Tống kiểm soát. Xét về địa hình địa thế, quân Liêu ở vào vị trí có lợi, có thể tiến có thể lui, có thể công có thể thủ.

Sau khi tiêu diệt Bắc Hán, quân Tống ngay lập tức phát động tấn công vào nước Liêu, dốc sức nhằm thu hồi toàn bộ mười sáu châu Yến Vân. Nước Liêu dĩ nhiên không chịu từ bỏ vùng đất màu mỡ này, hai bên đã nổ ra những trận chiến ác liệt ở cả phía nam và phía bắc của đường kiểm soát thực tế. Kết quả là hai lần tấn công dốc toàn lực quốc gia của Bắc Tống đều chuốc lấy thất bại thảm hại, rơi vào thế bị động ứng phó. Nước Liêu sau khi giành được hai chiến thắng này liền xuất binh xâm lược phương Nam, hai bên lại trải qua trận Quân Tử Quán tàn khốc cùng các trận chiến tại Dịch Châu (nay là huyện Dịch, Hà Bắc), hai bên đều có thắng có thua.

Về sau, quân Liêu bị tổn thất trong trận Từ Hà (nay thuộc địa phận Mãn Thành, Từ Thủy thuộc Hà Bắc) nên trong vài năm liền không phát động tấn công quy mô lớn xuống phương nam. Trong khi đó, do các lực lượng tinh nhuệ của nhà Tống cơ bản đã tiêu hao gần hết, buộc họ phải thực hiện một sự chuyển đổi lớn về mặt chiến lược: từ bỏ ý định thu phục U Kế bằng vũ lực, chuyển tấn công chiến lược thành phòng thủ chiến lược.

Vĩnh Thanh là nơi nằm gần Bắc Kinh nhất và nằm ở phía bắc của Bá Châu, vì vậy vùng Vĩnh Thanh đã trở thành chiến trường tranh giành qua lại của hai bên. Hệ thống địa đạo cổ được phát hiện tại huyện Vĩnh Thanh hiện nay chính là nằm ở cực bắc của toàn bộ hệ thống địa đạo cổ, thuộc tiền tuyến cao nhất của phòng tuyến phía bắc nước Tống. Từ phía nam của huyện thành, địa đạo chia làm hai hướng đi: một là từ Nam Quan của huyện thành Vĩnh Thanh thông về hướng tây nam đến thành Bá Châu, hai là từ đông nam huyện thành Vĩnh Thanh thông đến trấn Tín An thuộc Bá Châu. Thành Bá Châu và trấn Tín An thuộc Bá Châu đều là những thị trấn trọng yếu nơi quân Tống đóng quân. Ngay khi quân Liêu ở tiền tuyến có bất kỳ động thái nào, tình báo có thể nhanh chóng được gửi tới bộ chỉ huy. Dựa vào điều này, có thể biết rằng địa đạo cổ Vĩnh Thanh chính là công trình do quân và dân Bắc Tống lên kế hoạch xây dựng nhằm phòng ngự quân Liêu.

(Còn tiếp)

Theo Epoch Times