Một, Câu trả lời tuyệt diệu của vị hòa thượng

Sách Sơn đường tứ khảo ghi chép: Tống Hiếu Tông Triệu Thận (眘 là chữ cổ của 慎), đến tham quan chùa Thiên Trúc và chùa Linh Ẩn, có một vị hòa thượng pháp danh Tịnh Huy đi cùng ông suốt chặng đường. Triệu Thận nhìn thấy ngọn Phi Lai (ngọn núi bay đến), liền hỏi Tịnh Huy: “Đã là bay đến, vậy vì sao không bay đi?”

Hòa thượng Tịnh Huy đáp: “Động không bằng tĩnh.”

Triệu Thận thấy Bồ Tát Quan Âm trên tay cầm một chuỗi tràng hạt, lại hỏi Tịnh Huy: “Chuỗi tràng hạt đó dùng để làm gì?”

Hòa thượng Tịnh Huy đáp: “Dùng để niệm Bồ Tát Quan Âm.”

Triệu Thận lại hỏi: “Bồ Tát Quan Âm tay cầm tràng hạt, miệng niệm Bồ Tát Quan Âm: Ngài niệm chính mình để làm gì?”

Hòa thượng Tịnh Huy trả lời: “(Bồ Tát dùng chính hành vi của mình để dạy bảo chúng sinh —) Cầu người không bằng cầu mình.”

Tống Hiếu Tông Triệu Thận nghe xong câu trả lời của Tịnh Huy, vô cùng vui vẻ.

Hai, Vì sao Kim Cương trợn mắt? Vì sao Bồ Tát rủ mi?

Sách Thế thuyết bổ ghi chép: Tiết Đạo Hành có một lần du lãm chùa Khai Thiện ở núi Chung Sơn, hỏi một vị hòa thượng rằng: “Vì sao Kim Cương trợn mắt? Vì sao Bồ Tát rủ mi?”

Vị hòa thượng đáp: “Kim Cương trợn mắt, là để hàng phục tứ ma; Bồ Tát rủ mi, là vì từ ái và xót thương cõi Trời, cõi Người, cõi A-tu-la, cõi Ngạ quỷ, cõi Súc sinh và cõi Địa ngục (chúng sinh trong lục đạo).”

Tiết Đạo Hành bàng hoàng ngộ ra, liên tục khen hay.

Ba, Mỗi ngày tìm hiểu rõ một sự vật

Sách Minh sử • Thiệu Bảo truyện ghi chép: Thiệu Bảo, tự Quốc Hiền, người Vô Tích. Ông lấy lý học của Trình – Chu làm đối tượng học tập của mình. Ông từng nói: “Ta nguyện làm một kẻ sĩ phu chân chính, không muốn làm một tiên sinh đạo học giả dối.”

Ông đọc rộng các sách, mỗi khi thu hoạch được điều gì, liền ghi chép lại trên thẻ tre (mộc giản), đồng thời mượn ý của Trình Tử “Hôm nay cách (tức là cùng cứu, tìm hiểu ngọn ngành) một vật, ngày mai cách một vật”, nên gọi những thẻ này là “Cách tử”.

Bốn, Tự hối hận vì xử sai một vụ án

Sách Quảng dư ký ghi chép: Mẫn Đình Giáp thời nhà Minh, khi làm Thôi quan ở Thường Châu, chuyên quản lý việc hình ngục của một phủ, nổi tiếng là người “minh mẫn, tài cán”.

Ông từng nói: “Khi ta mới đến đây nhậm chức Thôi quan, đã xử sai một vụ án, đến nay vẫn ân hận khôn nguôi. Bản thân từ đó về sau, luôn cảnh giác không lơi lỏng, có lẽ đối với bách tính không còn gây ra lỗi lầm gì nữa.”

Năm, Tâm địa sạch sẽ, mới yêu trăng sáng vằng vặc

Sách Tấn thư • Tạ Lãng truyện ghi chép: Con trai của Tạ Lãng là Tạ Trọng, tự Cảnh Trọng, giữ chức Trưởng sử cho Hội Kê Vương Phiêu Kỵ tướng quân Tư Mã Đạo Tử. Có một lần, Tạ Trọng tháp tùng Tư Mã Đạo Tử, ngồi cùng nhau nói chuyện.

Lúc đó, đúng dịp trăng sáng lưng trời, ánh trăng vằng vặc. Tư Mã Đạo Tử cảm thán cảnh sắc quá đẹp. Tạ Trọng liền không cần suy nghĩ mà nói rằng: “Thần cho rằng không bằng có vài gợn mây điểm xuyết thì tốt hơn.”

Tư Mã Đạo Tử nói với Tạ Trọng: “Trong tâm ngươi không sạch, lại muốn khiến bầu trời cũng dơ bẩn theo sao? Tâm địa sạch sẽ, mới yêu trăng sáng vằng vặc!”

Sáu, Đậu tương và đậu đen ghi lại niệm đầu thiện ác

Sách Khước tảo biên ghi chép: Triệu Khái, tự Thúc Bình, là người Ngu Thành, Nam Kinh. Trong phòng ở của Triệu Khái, trên án thư nhất định phải đặt ba cái bát: một cái đựng đậu tương (đậu vàng), một cái đựng đậu đen, còn một cái để không. Ông thường xuyên bỏ vài hạt đậu vào trong cái bát trống không đó.

Người thân bạn bè hỏi ông: “Làm như vậy có tác dụng gì?”

Ông nói: “Ngày thường, ta nảy sinh niệm đầu thiện, thì bỏ vào đó một hạt đậu tương; nảy sinh niệm đầu ác, thì bỏ vào một hạt đậu đen, dùng để tự cảnh báo bản thân. Lúc mới bắt đầu, đậu đen nhiều hơn đậu tương, sau này đậu tương nhiều hơn đậu đen. Gần đây, thiện niệm hay ác niệm của ta đều không còn nảy sinh nữa, nên cũng không bỏ hạt đậu vào nữa.”

Bảy, Nên noi theo những người có phẩm hạnh thanh cao

Sách Minh sử • Trừ Tha truyện ghi chép: Trừ Tha, tự Tĩnh Phu, người Thái Châu. Ông có phẩm hạnh thuần chính, đạo đức cao thượng, tâm chí chuyên nhất, có tiết tháo. Giỏi thi văn, thích tiến cử những nhân sĩ nổi danh. Không phải là người cùng chí hướng, ông liền tránh xa.

Tiến sĩ Cố Lân, từng đi bái kiến Thượng thư Thiệu Bảo, Thiệu Bảo nói với ông rằng: “Ngươi muốn lập thân, thì nên noi gương Sài Khư.” Sài Khư là biệt hiệu của Trừ Tha.

Tám, Viết chữ “Quả” làm tên phòng để tự răn mình

Sách Tống sử • Lý Phương Tử truyện ghi chép: Lý Phương Tử, tự Công Hối, người vùng Thiệu Vũ. Lần đầu tiên ông gặp Chu Hy, Chu Hy nói với ông: “Ta thấy ngươi là một người có thể ít phạm phải sai lầm. Thế nhưng, trong sự khoan dung rộng rãi cần phải có phép tắc, trong sự ôn hòa cần phải có sự quả quyết. Ngươi đang thiếu đi sự quả quyết.”

Lý Phương Tử liền dùng chữ “Quả” (quả quyết, quả cảm) làm tên phòng đọc sách, để cảnh tỉnh và khích lệ bản thân.

Chín, Lục Hữu Trai

Sách Tự cảnh biên ghi chép: Một căn phòng của Doãn Ngạn Minh, tên là “Lục Hữu Trai” (Phòng có 6 điều), lấy ý từ câu nói của Hoành Cừ tiên sinh Trương Tái: “Lời nói có giáo dục, hành động có phép tắc, ban ngày có việc làm, ban đêm có thu hoạch, nghỉ ngơi có hàm dưỡng, chớp mắt có tâm bảo tồn”. Trương Tái từng nói: “Vì thiên địa lập tâm, vì sinh dân lập mệnh, vì bậc thánh nhân đời trước kế tục tuyệt học, vì vạn thế mở ra thái bình!” Đây chính là chí hướng của ông vậy.

Mười, Mười điều suy nghĩ

Sách Kiến văn lục ghi chép: Dương Đỉnh được thăng làm Hộ bộ Thị lang, e sợ bản thân không đảm đương nổi, nên ở một góc chỗ ngồi đã viết “mười điều suy nghĩ” (Thập tư) để tự nhắc nhở bản thân: “Định tội phải nghĩ đến khoan dung, có người mạo phạm phải nghĩ đến nhẫn nhịn, làm việc phải nghĩ đến đi đầu, luận công phải nghĩ đến nhường nhịn, khi ngồi phải nghĩ ngồi ở vị trí dưới, khi đi lại phải nghĩ đi ở phía sau, có tiếng tăm phải nghĩ đến ẩn mình, đối với quan vị phải nghĩ hạ mình khiêm nhường, tiết tháo phải nghĩ đến có thủy có chung, lui về ở ẩn phải nghĩ đến việc làm sớm.”

Theo Minh sử, Dương Đỉnh, tự Tông Khí, người Hàm Ninh, Thiểm Tây.

Mười một, Quy tắc giữ mình: Thận trọng lời nói, biết điểm dừng

Sách Chuế canh lục ghi chép: Thiệu Đồng Nguyên tiên sinh từng viết bốn chữ Nhẫn (nhẫn nhịn), Mặc (im lặng), Thứ (bao dung), Thoái (lùi bước) dán bên cạnh bàn. Muốn bảo toàn bản thân thì nên ăn nói thận trọng. Biết thế nào là đủ, là phép tắc làm người. Bốn chữ Nhẫn, Mặc, Thứ, Thoái hoàn toàn phù hợp với những đạo lý đối nhân xử thế ở trên.

Mười hai, Ba điều mất mát trong nhân sinh

Sách Thuyết uyển ghi chép: Khâu Ngô Tử nói: “Cả đời ta có ba tổn thất lớn: Ta từ nhỏ yêu thích học vấn, chu du thiên hạ để cầu học, sau khi trở về, phụ thân ta đã không còn trên đời nữa, đây là tổn thất lớn thứ nhất; làm bề tôi hầu hạ quân vương, quân vương kiêu ngạo xa xỉ, ta khuyên can nhưng không được chấp nhận, đây là tổn thất lớn thứ hai; ta kết giao bạn bè đều vô cùng sâu đậm, nhưng sau này lại tuyệt giao, đây là tổn thất lớn thứ ba.”

Mười ba, Ngày thường ở nhà, phẩm hạnh cao khiết

Sách Ngô chí • Chu Nhiên truyện ghi chép: Chu Nhiên, tự Nghĩa Phong, người Cố Chướng, Đan Dương. Ông cao chưa đầy bảy thước, nhưng thái độ vô cùng rạch ròi. Ngày thường ở nhà, phẩm hạnh cao khiết. Chỉ có binh khí mới trang trí hoa văn màu sắc, còn lại các đồ vật khác đều rất mộc mạc. Mỗi ngày đều cẩn thận dè dặt. Thế nhưng ở trên chiến trường, thường phải đối mặt với lúc nguy cấp, ông lại vô cùng can đảm điềm tĩnh, người thường không ai sánh kịp.

Mười bốn, Trong cơn say tranh giành kỹ nữ, sau khi tỉnh rượu trăm bề hối hận

Sách Thanh dị lục ghi chép: Người đọc sách vùng Mân (Phúc Kiến) tên là Lưu Ất, từng nhân lúc say rượu tranh giành kỹ nữ với người khác, sau khi tỉnh rượu, vô cùng xấu hổ và hối hận. Thế là ông đem tất cả những câu chuyện ghi chép trong sách về việc vì rượu mà chuốc lấy tai họa và tội lỗi, đều trích lục lại, biên soạn thành một cuốn sách để tự răn đe bản thân, sách lấy tựa đề là “Bách hối kinh” (Kinh trăm điều hối hận).

(Các phần trên đều được trích từ cuốn “Nhân kính loại toản” của Trình Duy Chu đời Thanh)

Theo VisionTimes