Tác giả: Liên Tử

Điêu khắc đời Đường với nét đầy đặn, tinh xảo lộng lẫy và khí tượng muôn vàn, là một di sản văn hóa có lịch sử lâu đời và nền tảng sâu sắc. Thành tựu đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc có mối liên hệ mật thiết với sự thịnh vượng về chính trị, kinh tế, văn hóa, cùng với khí độ bao dung như trăm sông đổ về một biển và tinh thần sáng tạo biết dung hội quán thông của Đại Đường. Đặc biệt, Phật giáo thịnh hành hơn cả thời Nam-Bắc triều và Tùy, được dân gian sùng tín, hoàng thất đề xướng, khiến phong trào xây chùa, tạc tượng, khai tạc hang đá lan rộng khắp cả nước, với số lượng, quy mô và kỹ thuật tinh xảo chưa từng có. Các hang đá ở Đôn Hoàng, Long Môn, Mạch Tích Sơn và Bỉnh Linh Tự đều bước vào thời kỳ hoàng kim dưới triều Đường. Đại Đường cũng là một thời đại tạo tác những pho tượng Phật khổng lồ, như tượng Phật lớn phía Bắc và phía Nam ở Mạc Cao Quật, tượng Đại Phật Lô Xá Na ở hang đá Long Môn, Đại Phật Lạc Sơn ở Tứ Xuyên và Đại Phật ở huyện Bân, Thiểm Tây, tất cả đều khiến người đời phải kinh ngạc thán phục. Chiêu Lăng Lục Tuấn, tượng gốm tam thái trong các ngôi mộ, tượng Bồ Tát đứng ở cung Đại Minh, Trường An, các tác phẩm điêu khắc màu ở am Thủy Lục, và các tác phẩm chạm khắc đá ở Đại Túc đều vô cùng đặc sắc. Bậc thầy điêu khắc thời Thịnh Đường, Dương Huệ Chi, được tôn vinh là “Thánh Tạc Tượng”.

Tượng Đại Phật huyện Bân

Quần thể hang đá chùa Đại Phật tọa lạc tại sườn núi Thanh Lương, phía tây huyện Bân, Thiểm Tây, bên bờ nam sông Kính. Quần thể này được phân bố một cách hài hòa trên một vách đá thẳng đứng dài 400 mét, với hơn một trăm hang động và hơn 1980 pho tượng lớn nhỏ, được chia thành năm phần: hang Đại Phật, động Thiên Phật, động La Hán, hang Phật Trượng Bát và hang Tu Hành. Chùa Đại Phật là một ngôi chùa hang đá quan trọng gần kinh thành Trường An thời Đường, và là một trong những quần thể hang đá có quy mô lớn nhất và tinh xảo nhất từ thời Sơ Đường đến Thịnh Đường còn tồn tại đến ngày nay, một viên ngọc sáng của nghệ thuật Phật giáo trên Con đường Tơ lụa cổ.

Chùa Đại Phật ban đầu có tên là “chùa Ứng Phúc”, do Đường Thái Tông Lý Thế Dân xây dựng để tưởng nhớ các binh sĩ đã hy sinh trong trận chiến ở Thiển Thủy Nguyên và Ngũ Long Phản tại Bân Châu, đồng thời cầu phúc và siêu độ cho các vong linh. Bên trong hang Đại Phật là tác phẩm điêu khắc “Tây Phương Tam Thánh”, những vị thánh dẫn dắt linh hồn về cõi Cực Lạc Tây Phương. Chính giữa là tượng đức Phật A Di Đà, hai bên là Bồ Tát Quán Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí, tất cả đều được làm bằng cốt đá, đắp bùn và vẽ màu.

Phật A Di Đà (Đại Phật) dựa vào vách đá, ngự ở trung tâm, cao 20 mét, vai rộng 13 mét, bàn tay cao 4,5 mét, và ngón tay dài 2 mét, đỉnh đầu có nhục kế màu xanh lam bảo thạch. Tượng được trang trí lộng lẫy, đường nét rõ ràng, vòng hào quang sau lưng tinh xảo, và là một trong những pho tượng Phật lớn được bảo tồn nguyên vẹn nhất hiện nay. Điều kỳ diệu là, khi quan sát ở các độ cao khác nhau, Đại Phật sẽ thể hiện những nét mặt khác nhau.

Đại Phật huyện Bân uy mãnh, dương cương, hùng tráng và vững chãi. Điều kỳ diệu là khi quan sát ở các độ cao khác nhau, Đại Phật sẽ thể hiện những nét mặt khác nhau. (Shutterstock)

Pho tượng Đại Phật cao 20 mét trong tư thế ngồi kiết già, toát lên vẻ hùng vĩ, tráng kiện, uy mãnh và dương cương. Đỉnh đầu có nhục kế xoắn ốc màu xanh lam bảo thạch, y phục có màu sắc tươi sáng. Tay trái đặt trên đầu gối, tay phải kết ấn Vô Úy (thể hiện đại nguyện từ bi cứu độ chúng sinh), vừa mang khí thế hùng tráng lại vừa khoan thai, trang nghiêm. Khi ngước nhìn khuôn mặt vuông vức, vàng óng của Đại Phật, đôi mắt phượng đang trìu mến nhìn xuống thế gian bao la và chúng sinh vô vàn, vừa từ bi vừa uy nghiêm, gây chấn động và thấm sâu vào lòng người.

Trên lưng tượng có các bức phù điêu với họa tiết ngọn lửa, tượng Phật ngồi và nhiều thiên nữ đang bay, tạo nên một không khí cát tường, vui tươi của thế giới Phật quốc. Ở phía dưới bên trái của vòng hào quang sau lưng tượng, có khắc dòng chữ: “Đại Đường Trinh Quán năm thứ hai, tháng mười một, ngày mười ba tạo”, tức là được xây dựng cơ bản hoàn thành vào năm 628 (năm thứ hai trong chuyến Tây du của Huyền Trang). Tượng trở thành một biểu tượng trên Con đường Tơ lụa phía bắc. Những thương nhân, tăng nhân, hiệp khách, văn nhân, binh sĩ sau những chặng đường mệt mỏi, chỉ cần nhìn thấy pho Đại Phật hùng vĩ là biết rằng kinh thành Trường An đã ở gần.

Pho tượng Phật lớn nhất Thiểm Tây và trên Con đường Tơ lụa cổ này khiến người ta vừa thấy đã không thể quên, khắc cốt ghi tâm, và được mệnh danh là “Kỳ quan đệ nhất Quan Trung”. Về sau, người ta gọi thẳng nơi này là chùa Đại Phật, và tên gọi đó được dùng cho đến ngày nay.

Tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở bên trái Đại Phật. (Shutterstock)

Hai vị Bồ Tát ở hai bên Đại Phật đều cao 15,6 mét, đầu đội bảo quan, thân khoác chuỗi ngọc anh lạc lộng lẫy, phía dưới mặc váy dài kiểu “dương trường” (ruột dê). Gương mặt các ngài tròn đầy phúc hậu, thân hình đầy đặn khỏe khoắn, toát lên khí chất dồi dào của thời Sơ Đường, thanh chính và hiền thục.

Hang đá chùa Đại Phật không chỉ tiếp thu các đặc sắc nghệ thuật từ Tây Vực và Trung Á, mà còn giữ lại được phong cách nghệ thuật Phật giáo của Trường An. Thời Sơ Đường chính là giai đoạn khai sáng một phong cách tạo tượng kiểu Trung Hoa mới.

Theo khảo chứng của các học giả Nhật Bản, nguồn gốc của các pho tượng Phật bằng gỗ ở chùa Nara đến từ chùa Đại Phật. Điều này cho thấy tầm ảnh hưởng của nghệ thuật Phật giáo khu vực Trường An đối với khu vực Đông Á. Người Đức từng ca ngợi chùa Đại Phật: “Có thể sánh ngang với Nhà thờ Đức Bà Paris”.

Truyền thuyết dân gian

“Huyện Bân có chùa Đại Phật, chống trời kêu ken két.” Theo truyền thuyết địa phương, Đại Phật được tạc theo dung mạo của Đường Thái Tông, Võ Thánh Hoàng đế Lý Thế Dân (tên thụy của Lý Thế Dân là Văn Hoàng đế, sau được thêm thụy hiệu là Văn Võ Đại Thánh Đại Quảng Hiếu Hoàng đế). Dưới đài Minh Kính trong hang Đại Phật, hai chữ “Giác Lộ” (Con đường giác ngộ) được cho là do “trích tiên” Lý Bạch viết.

Ngón tay áp út bên tay phải của Đại Phật rất kỳ lạ, nó duỗi ra và chỉ về phía sông Kính, ý nghĩa là gì? Người của bảo tàng chùa Đại Phật kể rằng có một truyền thuyết: một năm nọ, sông Kính xảy ra một trận lụt lớn chưa từng thấy, mùa màng bị cuốn trôi hết, người dân kêu trời không ngớt. Mọi người đốt hương khấu đầu, cầu Phật cứu nạn. Đại Phật khẽ nhấc tay phải, duỗi ngón áp út, dòng nước lũ lập tức rút đi. Ai ngờ, khi Đại Phật vừa hạ tay xuống, nước lại dâng lên, để chấm dứt vĩnh viễn nạn lụt, ngón áp út của Đại Phật đã chỉ về phía sông Kính mãi mãi. Từ đó, nơi đây không bao giờ xảy ra lụt lớn nữa.

Vào tháng 8 năm 1993, trong quá trình thực hiện dự án hợp tác Trung-Đức bảo vệ di tích chùa Đại Phật, các chuyên gia di sản văn hóa Đức đã phát hiện một dòng chữ trên đỉnh đầu tượng Phật: “Năm Chí Thuận thứ tư (1333), ngày hai mươi sáu tháng sáu, nước sông Kính dâng đến chùa…”, tra trong sách Tư Trị Thông Giám trang 1143 có đoạn: “Tháng đó mưa lớn, ở kinh đô nước ngập cao hơn một trượng, sông Kính tràn bờ, Quan Trung bị lụt, sông Hoàng Hà vỡ đê lớn.” Điều này trùng khớp với truyền thuyết dân gian.

Câu chuyện nhỏ mở rộng

“Công thành lý định sao thần tốc, tốc tại lấy tâm đặt dạ người.” Bạch Cư Dị trong bài thơ Thất Đức Vũ đã ca ngợi Đường Thái Tông: “Di hài vong tốt dùng lụa thu, đói bán con thơ lấy vàng chuộc.” Vào những năm đầu Trinh Quán, Đường Thái Tông đã ra lệnh thu gom hài cốt của tất cả những người chết trận trong chiến loạn, sau khi cúng tế thì an táng; vì không nỡ để sót lại những người chưa được chôn cất, sau này ông lại ban thêm một lệnh, rằng bất kỳ ai thu gom và chôn cất những thi hài vô chủ sẽ được quan phủ tặng vải lụa để tạ ơn. Năm Trinh Quán thứ hai, đất nước vừa ổn định không lâu thì xảy ra nạn đói lớn, dân gian có chuyện cha mẹ vì đói mà phải bán con. Thái Tông hạ lệnh xuất vàng bạc trong phủ khố ra để chuộc lại những đứa trẻ bị bán và trả chúng về cho cha mẹ.

Để tưởng niệm các binh sĩ đã hy sinh vì Đại Đường, Đường Thái Tông đã ban bố “Chiếu vì người chết trận lập đàn chay”, cho xây dựng bảy ngôi chùa Phật tại những nơi diễn ra các trận quyết chiến trong cuộc chiến khai quốc năm đó. Trong đó có “phá Tống Kim Cương tại Tấn Châu, lập chùa Từ Vân”. (Xem Phật Tổ Thống Kỷ – Quyển thứ 39)

Chùa Chiêu Nhân ở huyện Trường Vũ, Thiểm Tây được xây dựng để tưởng niệm các binh sĩ tử trận trong trận chiến tại Thiển Thủy Nguyên (chiến đấu với cha con thế lực cát cứ Tiết Cử, Tiết Nhân Cảo ở Lũng Tây). Chùa này nối liền với chùa Đại Phật huyện Bân ở phía đông, núi Không Động ở Bình Lương phía tây, và hang đá Khánh Dương ở phía bắc. Đại Hùng bảo điện ba gian với các góc mái cong vút của chùa Chiêu Nhân có kết cấu mái treo kiểu bát quái khá đặc biệt, bên trong không có cột chống, chín cây xà và mười tám đòn tay chồng lên nhau tạo thành vòm, dân gian thường gọi là “một đòn gánh gánh tám góc”, đây là ví dụ duy nhất về loại kết cấu gỗ này trong kiến trúc cổ Trung Quốc.

Trong chùa có tấm bia “U Châu Chiêu Nhân Tự bia” được dựng vào năm Trinh Quán thứ tư (630), do Chu Tử Xa soạn văn, không có tên người viết chữ, tương truyền là bút tích của Ngu Thế Nam, một trong “Sơ Đường tứ đại gia”. Thư pháp của ông tròn trịa, mạnh mẽ, nét ngoài mềm mại mà bên trong cứng cỏi. Hơn ba nghìn chữ trên bia văn về cơ bản vẫn còn nguyên vẹn, ghi lại diễn biến của trận chiến Thiển Thủy Nguyên và quy mô của ngôi chùa, ca ngợi chiến công và siêu độ cho vong linh của binh sĩ hai bên địch-ta đã tử trận.

Hang đá Long Môn

Hang đá Long Môn nằm ở phía nam thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, trên vách đá của núi Long Môn và núi Hương Sơn hai bên bờ sông Y. Hang đá chủ yếu được khai tạc trong khoảng hơn 400 năm từ thời Bắc Ngụy đến Bắc Tống, đến nay vẫn còn hơn 21.000 hang hốc, hơn 100.000 pho tượng, trong đó các hang động thời Đường chiếm hơn 60% tổng số, và đạt đến đỉnh cao vào thời Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên. Có động Vạn Phật với 15.000 tượng Phật nhỏ, chùa Khán Kinh với nhóm tượng 29 vị tổ sư La Hán truyền pháp, và các động Tiềm Khê, Phụng Tiên, Lôi Cổ Đài (còn gọi là động Đại Vạn Ngũ Phật), v.v.

Chùa Phụng Tiên là một quần thể điêu khắc ngoài trời trên vách đá, dựa vào thế núi, với quy mô hùng vĩ và kỹ thuật điêu khắc tinh xảo, đã chiếm vị trí đỉnh cao trong nghệ thuật điêu khắc Phật giáo trên đá của Trung Quốc. Chín pho tượng lớn gồm một Phật, hai đệ tử, hai Bồ Tát, hai Thiên Vương và hai Lực sĩ mang khí thế hùng tráng, vừa mộc mạc, cô đọng lại vừa mạnh mẽ, sống động. Chiều cao của các tượng giảm dần, tạo thành thế “chúng tinh phủng nguyệt” (sao vây quanh trăng) làm nổi bật biểu tượng nổi tiếng thế giới của hang đá Long Môn – Đại Phật Lô Xá Na.

Đại Phật Lô Xá Na tại chùa Phụng Tiên, hang đá Long Môn, Lạc Dương, Hà Nam. (Shutterstock)

Chùa Phụng Tiên do Đường Cao Tông Lý Trị phát nguyện xây dựng cho phụ thân là Thái Tông Lý Thế Dân. Hoàng hậu Võ Tắc Thiên từng quyên góp hai vạn quan tiền phấn sáp vào năm Hàm Hanh thứ ba (672). Tượng Phật Lô Xá Na được hoàn thành vào năm Thượng Nguyên thứ hai thời Đường Cao Tông (675), là pho tượng Phật lớn nhất ở hang đá Long Môn, trong đó phần đầu cao 4 mét, tai dài 1,9 mét. Đại Phật ngồi trang nghiêm trên tòa sen, mình khoác áo cà sa thông vai, các nếp áo hình vòng cung đơn giản và mượt mà. Khuôn mặt tròn đầy, khóe miệng hơi nhếch, ánh mắt sáng như đuốc, tràn đầy tự tin và trí tuệ. Toàn bộ pho tượng vừa hùng vĩ, lộng lẫy, vừa toát lên vẻ uy nghi, sang trọng lại vừa anh武, gọn gàng. Phật Lô Xá Na là Báo thân Phật của Thích Ca Mâu Ni, “Lô Xá Na” có nghĩa là trí tuệ rộng lớn, ánh sáng chiếu rọi khắp nơi. (Chú thích: Phật Lô Xá Na, tiếng Phạn là Locanabuddha, tức là Báo thân Phật, là thân Phật hiển thị trí tuệ của Phật sau khi đã chứng đắc chân lý tuyệt đối và đạt được quả vị Phật.)

Chùa Phụng Tiên, hang đá Long Môn, quần thể điêu khắc trên vách đá, thời Sơ Đường. (Shutterstock)

Võ Tắc Thiên đã lợi dụng Phật giáo để tạo thanh thế cho việc lên ngôi của mình. Sau khi xưng đế, bà tự xưng là “Từ Thị Kim Luân Thần Hoàng” (tức là Di Lặc). Việc khai tạc hốc thờ ba pho tượng Phật trên vách đá với Di Lặc làm chủ tôn đã xuất hiện trong bối cảnh lịch sử đó. Cùng với sự sụp đổ của chính quyền Võ Chu, công trình này cũng bị đình chỉ. (Còn tiếp)

Theo Epoch Times