Vì sao người xưa chắp tay hành lễ khi gặp nhau?
Lễ truyền thống Trung Hoa coi trọng tinh thần khiêm nhường, thể hiện rõ trong cách chắp tay, cúi chào khi gặp nhau. Ý nghĩa của “ấp nhượng” là tôn trọng người khác, tự hạ mình, khiêm thoái, không tranh, biểu hiện phong độ người quân tử. “Bạch hổ thông đức luận”, quyển hai, phần Lễ nhạc, giải thích nghi lễ ấy nhằm tôn người, hạ mình và không tranh giành.

Lễ truyền thống Trung Hoa coi trọng tinh thần khiêm nhường, thể hiện rõ trong cách chắp tay, cúi chào khi gặp nhau. Ý nghĩa của “ấp nhượng” là tôn trọng người khác, tự hạ mình, khiêm thoái, không tranh, biểu hiện phong độ người quân tử. “Bạch hổ thông đức luận”, quyển hai, phần Lễ nhạc, giải thích nghi lễ ấy nhằm tôn người, hạ mình và không tranh giành.
Theo cách nhìn truyền thống được tác giả giới thiệu, lễ ấp nhượng nâng tu dưỡng cá nhân và còn hướng tới lý tưởng trị thiên hạ; nền tảng là thành tâm, kính trọng, kết nối với trời đất. Khổng Tử nói: “Làm lễ mà không kính, ta biết xem gì ở đó?” Kính là gốc của lễ. Người xưa tin có lòng thành kính thì lễ dùng trong trăm việc có thể nối âm dương, tôn trời đất, kính thần linh, sắp đặt quan hệ trên dưới, từ đó làm ngay đạo người.
“Nhạc ký” nói lễ đạt tới thì không tranh; dùng ấp nhượng trị thiên hạ là nói tới lễ nhạc. Bởi vậy, trong nghi lễ nhà Chu, văn hóa này giữ vị trí quan trọng, được truyền từ Chu tới Thanh qua hàng nghìn năm.
Những hình thức chào gặp
Trong Chu lễ, “ấp lễ” là tên gọi chung của nghi lễ gặp nhau, thể hiện tôn trọng và lòng khiêm cung chân thành. Có trường ấp, bái ấp, tam ấp, tam ấp tam nhượng, cùng thổ ấp, thời ấp, thiên ấp của quân vương. Những khác biệt nhỏ trong tư thế tương ứng với quan hệ và đạo lý ứng xử khác nhau.
Tác ấp
“Thuyết văn” giải thích đưa tay trước ngực gọi là ấp. Chú giải “Nghi lễ – Hương ẩm tửu lễ” nói đẩy tay ra là ấp, thu tay vào là yểm. Với người ngang hàng, hai bàn tay để ngang trước ngực, hai ngón cái hơi chạm, bốn ngón còn lại khép và đặt chồng; nam tay trái trên, nữ tay phải trên. Khi hành lễ, tay hơi đẩy ra trước, chân thẳng, thân cúi, đầu hạ, mắt nhìn mũi giày để giữ uy nghi đẹp, theo “Sự lâm quảng ký”.
Củng thủ
“Củng thủ” là hai tay hợp trước ngực. “Nhĩ nhã – Thích hỗ” giải “củng” là cầm giữ, chú rằng hai tay cùng giữ gọi là củng. Học trò gặp thầy ngoài đường thì nhanh bước tới, đứng ngay ngắn chắp tay, theo “Lễ ký – Khúc lễ thượng”. “Thông điển”, phần Lễ thứ 28, giải thích đó là biểu hiện sẵn sàng nghe dạy, nhận việc sai bảo. Đây cũng là cách người nhỏ tuổi, địa vị thấp hơn chào bậc tôn trưởng.
Xoa thủ
Trong “Huấn mông pháp” thời Tống, Vương Hư Trung, tên húy Nhật Hưu, nói trẻ sáu tuổi vào học trước hết được dạy xoa thủ: tay trái nắm chặt tay phải, ngón út trái hướng về cổ tay phải; các ngón phải duỗi, ngón cái trái hướng lên theo bốn ngón ấy; hai tay như che ngực nhưng không chạm, cách ra một khoảng nhỏ.
“Tăng vận” Nam Tống nói tục gọi củng thủ là xoa thủ. “Hồng Vũ chính vận” giải “xoa” là tay đan nhau. “Đệ tử lễ” thời Minh ghi cách hơi khác: tay trái nắm ngón cái phải. Đây cũng là lễ học trò với thầy, người nhỏ với tôn trưởng. Trong tranh “Hàn Hy Tái dạ yến đồ” của Cố Hoành Trung thời Ngũ Đại, nhân vật nắm hai tay, ngón cái phải nhô lên; trong “Trung hưng tứ tướng đồ” của Lưu Tùng Niên, người hầu cũng ôm hai tay, ngón cái đan nhau.
Thổ ấp, thời ấp, thiên ấp
Vua chào chư hầu theo mức thân sơ. Với chư hầu khác họ không có quan hệ thân tộc, tay đẩy hơi xuống, gọi thổ ấp; với người khác họ có quan hệ thông gia, tay đẩy ngang trước ngực, gọi thời hay bình ấp; với thân tộc cùng họ, tay đẩy hơi lên, gọi thiên ấp.
Khi vận dụng trong dịp trọng đại hằng ngày, thổ ấp có thể dùng từ bậc trên với người dưới; thời ấp giữa ngang hàng; thiên ấp từ người dưới với bậc trên, gồm cha mẹ.
Bái ấp
Bái ấp là cúi mình hành lễ. Với bậc tôn trưởng, phải cúi eo, tay đưa quá đầu gối, cả bàn tay lộ ngoài tay áo, không chỉ một ngón cái, và chờ bậc trên đáp rồi mới thẳng người.
Trong hồi “Quan Âm viện tăng mưu bảo bối, Hắc Phong sơn quái thiết cà sa” của “Tây du ký”, khi các tăng nói sư tổ tới, Tam Tạng cúi người bái ấp, đón vị lão viện chủ và xưng đệ tử xin hành lễ.
Trường ấp
Trường ấp là đưa tay cao rồi hạ từ trên xuống dưới đầu gối. Theo thân phận người đối diện, tay khởi ở quá đầu, trước đầu hoặc trước ngực; người được chào càng tôn quý, tay càng đưa cao. Đây cũng là hình thức bái ấp thành kính. “Lão Tàn du ký nhị biên”, hồi sáu, có cảnh Lão Tàn đứng lên trường ấp với Dật Vân và nói mọi việc xin nhờ.
Tam ấp
Tam ấp chỉ vua và phu nhân hành lễ với ba hạng bề tôi: khanh, đại phu, sĩ. Quan hệ vua tôi không phải chỉ một bên ở trên cao là có thể trị thiên hạ. “Thuyết uyển – Quân đạo” nói thiên tử ngồi nghe triều không quên lễ ấp nhượng để cầu bề tôi thì người tài mới tới. Tam ấp của vua là lễ kính trọng bề tôi.
Tam ấp tam nhượng
Đây là lễ chủ khách gặp nhau, ba lần chào và ba lần nhường. Theo “Nghi lễ – Sĩ hôn lễ”, khi bên trai muốn kết thân, trước tiên hỏi tên. Chủ bên gái ra ngoài cổng xóm dòng họ kính đón, chắp tay chào, lạy hai lần rồi mời vào. Tới cửa miếu, chủ hành lễ mời vào, ba lần ấp; tới bậc thềm lại ba lần nhường. Đó là biểu hiện rất khiêm kính giữa chủ và khách.
Vạn phúc
Lễ chào của phụ nữ này phổ biến từ thời Tống. “Chu Tử gia lễ” ghi đàn ông xướng lời chào, phụ nữ nói “vạn phúc”; tranh nhân vật tạp kịch cũng lưu hình thức ấy. Người hành lễ nói vạn phúc hỏi an, thường kèm tác ấp hoặc xoa thủ, chân phải lùi một bước, gối hơi khuỵu. Lễ thường dùng khi người nhỏ tuổi chào bậc tôn trưởng.
Giữ tinh thần khiêm kính
Chế độ lễ nhạc nhà Chu và tinh thần Nho gia coi trọng ấp nhượng, gửi gắm lý tưởng cùng thực hành trị thiên hạ bằng lễ nhạc. Từ lòng kính người, nhường mình, người xưa mong đạt xã hội an hòa: dân không nổi bạo, chư hầu quy phục, binh khí không cần dùng, hình phạt không cần thi hành, dân không loạn nạn.
Tác giả cho rằng trong xã hội biến động, nếu mỗi người thường giữ thành ý tôn trọng, khiêm nhường, nguy cơ xung đột bạo lực sẽ giảm. Dù ngày nay không còn phổ biến nghi thức ấy, ta vẫn có thể giữ và thực hành tinh thần của nó mọi nơi, để hướng tới đời sống thuận hòa.
Chú thích: [1] “Tân biên toản đồ tăng loại quần thư loại yếu Sự lâm quảng ký”, tiền tập, quyển 11, Trần Nguyên Tịnh biên soạn thời Tống. [2] “Chu lễ – Thu quan – Tư nghi” ghi thổ ấp người khác họ không thân, thời ấp người khác họ có thông gia, thiên ấp người cùng họ; “Chu lễ chú sớ san dực” giải thích ba hướng đưa tay xuống, ngang, lên tương ứng.
Tác giả: Quan Sơn Nguyệt Minh (關山月明). Nguồn: The Epoch Times.


