Thứ Năm, 22.10.2026Tiếng Việt / Hoa Kỳ
Giới thiệu
DKN.TVĐại Kỷ Nguyên — Mang đến giá trị cuộc sống
Văn hóa

Người xưa dưỡng lão ra sao? Nhìn từ hệ thống cứu tế thời Tống

Bên cạnh hiếu đạo trong gia đình và sự tương trợ của tông tộc, thời Tống còn xây dựng những cơ sở công để nuôi người cô độc, chữa bệnh và lo an táng cho người nghèo.

Tuệ Minh ·
Ảnh minh hoạ người cao tuổi nhận bát cơm trong một cơ sở cứu tế thời Tống.
Ảnh minh hoạ.

Bên cạnh hiếu đạo trong gia đình và sự tương trợ của tông tộc, thời Tống còn xây dựng những cơ sở công để nuôi người cô độc, chữa bệnh và lo an táng cho người nghèo.

Người xưa dưỡng lão thế nào? Quan niệm truyền thống Trung Hoa có nuôi con để nương tựa lúc già và tương trợ trong dòng họ. Nhưng người cao tuổi không nơi nương tựa có phải đành phó mặc số phận? Nhìn lại thời Tống, đặc biệt cuối Bắc Tống, có thể thấy một câu trả lời khá cụ thể: dưỡng lão không chỉ là chuyện luân lý gia đình mà còn là công việc chung, có thể được chính quyền phân công, lập quy định, cấp kinh phí và thực hiện.

Cuối thu năm Đại Quan thứ nhất thời Bắc Tống, một viên gạch mộ tại Lậu Trạch viên ở Thiểm Châu ghi thông tin về một người dân tên Trương Cát của địa phương. Theo bài nghiên cứu phổ thông do Hòa Tử biên tập trên SecretChina, dòng chữ không chỉ là đề ký mộ thông thường mà còn để lại dấu vết của một thiết chế: người nghèo bệnh, không nơi nương tựa được đưa vào An Tế phường chữa trị; khi qua đời không ai lo liệu, họ được Lậu Trạch viên mai táng.

Từ gia đình đến mạng lưới cứu trợ

Hệ thống ấy bao quát chuyện sinh tồn, bệnh tật và hậu sự. Tiền thân có thể tìm về Phúc Điền viện đầu Bắc Tống; bước chuyển lớn diễn ra vào giữa và cuối triều đại này.

Năm Nguyên Phù thứ nhất, triều đình đã ban “Cư dưỡng pháp”, quy định chính quyền nuôi dưỡng những người góa bụa, mồ côi, cô độc, nghèo khó không thể tự sống; người bệnh còn được cấp thuốc. Đến đời Huy Tông, việc cứu trợ trở nên có tổ chức và phân công rõ hơn: Cư Dưỡng viện thu nhận người già nghèo, trẻ mồ côi và người yếu thế; An Tế phường phụ trách chữa bệnh; Lậu Trạch viên an táng người chết vô chủ và người nghèo.

Mệnh lệnh thời Chính Hòa nêu rõ: người góa bụa, mồ côi, cô độc có viện nuôi dưỡng; người bệnh có phường cứu chữa; người chết có nơi chôn cất — đó là gốc của đạo trị nước. Cách diễn đạt ấy thừa nhận bảo đảm đời sống cho người yếu thế là một phần của trật tự quản trị.

Điểm đáng chú ý nằm ở việc cứu tế không còn chỉ được hiểu là phát gạo khi có thiên tai hoặc làm việc thiện thỉnh thoảng. Nó được phân thành những cơ quan chuyên trách, có công việc riêng và nối tiếp nhau.

Năm Sùng Ninh thứ năm, triều đình yêu cầu các thành, trại, trấn, chợ đạt quy mô hộ dân nhất định và có quan quản lý phải lập Cư Dưỡng viện theo cách của châu, huyện. An Tế phường và Lậu Trạch viên cũng được triển khai xuống địa phương. Đó là nỗ lực kéo dài mạng lưới cứu trợ tới cơ sở, vượt khỏi một công trình mẫu ở kinh thành.

Phạm vi giúp đỡ người có nguy cơ chết rét trên đường cũng được mở rộng. Vào tháng Mười nhuận năm Đại Quan thứ nhất, Huy Tông ra chiếu thu nhận người thiếu áo quần trong mưa tuyết mùa đông vào Cư Dưỡng viện, theo quy chế của viện. Về sau, quy định mở rộng tới những người ngã nằm ngoài đường vì lạnh. Như vậy, chính quyền không chỉ đợi người nghèo tìm đến mà đã có yếu tố chủ động phát hiện và thu nhận.

Định mức chăm sóc và nguồn kinh phí

Hệ thống còn đặt điều kiện tiếp nhận và phân tầng chăm sóc. Năm Đại Quan thứ nhất, người già góa bụa, cô độc từ 50 tuổi trở lên có thể được nhận vào Cư Dưỡng viện. Đến năm Tuyên Hòa thứ hai, do số người được nuôi quá nhiều, tuổi tiếp nhận tăng lên 60. Sự điều chỉnh cho thấy triều đình đã dùng con số cụ thể để xác định đối tượng giữa sức ép tài chính và nhu cầu cứu trợ.

Tiêu chuẩn cung dưỡng cũng được ghi khá rõ. Người được nuôi mỗi ngày nhận một thăng gạo hoặc kê cùng 10 văn tiền. Từ tháng Mười một đến tháng Giêng năm sau, họ được thêm 5 văn tiền củi than.

Người từ 80 tuổi được cấp gạo trắng mới và tiền củi. Từ 90 tuổi, mỗi ngày được thêm 20 văn tiền tương, rau; mùa hạ có áo vải, mùa đông có áo bông và chăn. Người trên 100 tuổi được thêm tiền mua thịt; tiền tương được nâng lên tổng cộng 30 văn, mùa đông cấp áo chăn bông, lụa, mùa hạ có đồ lụa mỏng.

Những điều khoản chi tiết cho thấy dưỡng lão đã được đưa từ khuyến khích đạo đức sang công việc hành chính. Tuổi nào được nhận, mùa đông có trợ cấp không, người rất cao tuổi ăn gì, mặc gì đều có quy định, thay vì tùy thuộc lòng tốt nhất thời của quan địa phương.

Một ví dụ về cơ sở thực tế là Cư Dưỡng viện Tô Châu được xây dựng lại năm Thuần Hy thứ năm đời Nam Tống. Viện có hơn 300 gian nhà, 1.660 mẫu ruộng, mỗi năm thu hơn 700 thạch thóc tô; kèm theo kho lương, giếng, bếp và vườn. Điều này cho thấy địa phương đã tìm cách tạo nguồn tài chính tương đối ổn định cho cơ sở cứu trợ, thay vì hoàn toàn dựa vào cấp tiền một lần.

Dẫu thường gọi là dưỡng lão, đối tượng của Cư Dưỡng viện rộng hơn người cao tuổi. Viện còn thu nhận người nghèo không tự sống được, người khuyết tật, trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, dân lưu tán, người ăn xin, thậm chí quân nhân bị bệnh trên đường và trẻ mất gia đình sau thiên tai. Sang Nam Tống, những cơ sở chuyên biệt như Từ Ấu cục, Anh Nhi cục dần xuất hiện. Đây là hệ thống cứu trợ lấy người không thể tự nuôi sống làm trung tâm; người già là một bộ phận quan trọng nhưng không phải duy nhất.

Chữa bệnh và lo hậu sự

An Tế phường làm cho hệ thống mang nét kết hợp chữa bệnh với nuôi dưỡng rõ rệt hơn. Tiền lệ quan trọng gắn với Tô Thức tại Hàng Châu.

Năm Nguyên Hựu thứ tư, Tô Thức đến làm tri châu Hàng Châu, gặp hạn hán rồi dịch bệnh. Ông vừa cứu tế vừa cử quan lại cùng thầy thuốc đi từng phường chữa bệnh; lại bỏ tiền riêng lập bệnh phường, tích trữ tiền lương để điều trị lâu dài. Tô Triệt đã ghi việc này trong văn bia mộ anh trai. Bệnh phường ấy về sau được gọi là An Lạc phường, được xem như một tiền lệ quan trọng trước khi An Tế phường trở thành thiết chế.

Đến năm Sùng Ninh thứ nhất, triều đình cho lập An Tế phường ở các nơi, chuyên thu nhận người bệnh không chỗ cầu cứu. Người già cô độc thường cũng cần bảo đảm y tế nhất. Cư Dưỡng viện lo nuôi, An Tế phường lo chữa, hai bên kết hợp tạo nên một lớp bảo trợ.

Lậu Trạch viên đưa sự bảo trợ tới bước cuối đời. Tên gọi này được dùng chính thức và phổ biến trên toàn quốc từ sau năm Sùng Ninh thứ ba, dù tiền lệ còn sớm hơn. Thời Huy Tông, quy định yêu cầu chọn đất cao ráo, không canh tác để chôn hài cốt vô chủ và người nghèo; mộ phải sâu ba thước, không được để lộ.

Người quản lý phải lập sổ, khắc tên, ngày tháng, thân phận lên gạch vuông. Có nơi đánh số theo “Thiên tự văn” để thuận việc kiểm tra hoặc cải táng. Trong nghĩa trang có nơi tế lễ, thường do tăng nhân trông coi. Cách quản lý vừa có đăng ký hành chính, vừa giữ sự kính trọng theo lễ tục “nhập thổ vi an”. Việc chết không người chôn cất được đưa vào phạm vi trách nhiệm chung.

Khảo cổ cũng để lại bằng chứng cụ thể. Tại nghĩa địa Lậu Trạch viên Thiểm Châu thời Bắc Tống ở ngoại ô Tam Môn Hiệp, đã khai quật 849 ngôi mộ, tìm thấy hoặc thu thập hơn 300 viên gạch mộ. Trên phạm vi rộng hơn, 19 địa điểm thuộc tám tỉnh, thành đã phát hiện mộ Lậu Trạch viên, với hơn 400 viên gạch có chữ. Nội dung thường gồm số hiệu, thân phận, tên, tuổi và thời điểm an táng. Những dấu tích này cho thấy cơ chế cứu trợ từng phục vụ những con người cụ thể, từ dân nghèo, quân nhân, người bệnh đến trẻ mồ côi.

Những giới hạn của một thiết chế xưa

Hệ thống ấy cũng có nhược điểm. Trước hết là sức ép tài chính. Kinh phí chủ yếu đến từ tài sản của hộ không còn người thừa kế, tiền lãi và gạo trong hệ thống thường bình; một số nơi bổ sung tô ruộng công. Khi tài chính địa phương eo hẹp, các cơ sở cứu trợ cũng sớm khó khăn. Sau khi Nam Tống hình thành, nhiều nơi rất khó duy trì chúng.

Thứ hai là sai lệch trong thực hiện. “Tống sử” từng phê bình việc cứu trợ thời Sùng Ninh chi tiêu quá mức: có địa phương thuê nhũ mẫu, người hầu, sắm màn trướng, khiến chi phí tăng nhiều lần, người nghèo được hưởng nhưng người khá giả bị phiền nhiễu. Nếu tiêu chuẩn phúc lợi mất kiểm soát, nó dễ gây thâm hụt và phản ứng trong dân.

Các vấn đề khác gồm báo khống số người, lĩnh tiền không đúng, người trẻ khỏe trà trộn trong khi người thực sự cần lại bị gạt ra. Quy định càng chi tiết, sự trung thực và khả năng của bộ máy thực hiện càng quan trọng.

Một điểm yếu sâu hơn là sự phụ thuộc vào nhân vật chính trị. Việc mở rộng Cư Dưỡng viện, An Tế phường, Lậu Trạch viên gắn chặt với triều Huy Tông và thời Thái Kinh nắm quyền. Khi chính cục, chủ trương thay đổi, các thiết chế cũng thăng trầm, thậm chí bị bãi bỏ hoặc chỉnh đốn. Dù tiến tới mức có tổ chức, chúng vẫn mang đậm yếu tố nhân trị.

Tuy vậy, kinh nghiệm thời Tống vẫn có giá trị lịch sử. Nó cho thấy xã hội Trung Hoa thời ấy từng hình thành một hệ thống cứu trợ của nhà nước tương đối phát triển, trong đó chăm sóc người cao tuổi là một mắt xích quan trọng.

Theo Hòa Tử biên tập, SecretChina, ngày 25/6/2026. Đây là bài lịch sử, không mô tả một chính sách mới. Tư liệu bài nguồn: “Tống sử”, quyển 178; Quách Văn Giai, “Khái luận về cơ sở cứu trợ do chính quyền tổ chức thời Tống”, Tạp chí Học viện Sư phạm Tín Dương, số 2/2003; nghiên cứu về từ thiện thời Đường–Tống; Bảo tàng Hà Nam, “Gạch mộ thời Tống”.

DKN.TV

Tìm kiếm trên DKN