Cá mập vai áo ‘đi’ trên rạn san hô và chịu được nước thiếu oxy
Cá mập vai áo có thể dùng cặp vây ngực và vây bụng để “đi” trên nền rạn san hô. Ở vùng nước nông, khả năng di chuyển khác thường ấy đi cùng sức chịu đựng khi lượng oxy hòa tan giảm mạnh lúc thủy triều rút.

Cá mập vai áo có thể dùng cặp vây ngực và vây bụng để “đi” trên nền rạn san hô. Ở vùng nước nông, khả năng di chuyển khác thường ấy đi cùng sức chịu đựng khi lượng oxy hòa tan giảm mạnh lúc thủy triều rút.
Bài giới thiệu trên SecretChina mô tả loài cá mập vai áo (Hemiscyllium ocellatum) sống quanh các rạn san hô nông ở phía bắc Australia và phía nam New Guinea. Cá thường dài khoảng 70–90 cm; sau mỗi vây ngực là một đốm đen lớn viền trắng, gợi hình phù hiệu trên vai áo.
Di chuyển bằng vây trên nền rạn
Thay vì chỉ bơi bằng đuôi, loài này có thể uốn thân sang hai bên và đẩy mình bằng các vây ngực, vây bụng trên cát hoặc nền san hô. Theo SecretChina, chúng thường hoạt động mạnh hơn về đêm, ưa các vũng triều, bãi san hô và cụm san hô gạc hươu dày đặc, thường ở vùng biển sâu không quá 50 m. Cuống đuôi chiếm một phần khá dài của cơ thể. Chúng thậm chí bò qua quãng nền lộ ra trong lúc thủy triều thấp để tới một vũng nước khác. Một nghiên cứu về động học di chuyển công bố năm 2022 đã quan sát cách cá mập non và cá mập chưa trưởng thành phối hợp vây khi “đi” dưới nước.
Các vũng triều có thể bị tách khỏi biển khi nước rút. Sinh vật trong vũng vẫn tiêu thụ oxy, nên môi trường ngày càng khó sống đối với cá. SecretChina cho biết lượng oxy hòa tan trong những vũng như vậy có thể giảm hơn 80% qua một đêm. Khả năng chịu thiếu oxy giúp cá mập vai áo tiếp tục ở lại môi trường này thay vì phải rút ngay ra vùng nước sâu.
Trong nghiên cứu sinh lý học công bố năm 2001 về loài này, các tác giả nhắc lại thí nghiệm của Wise và cộng sự năm 1998: cá mập vai áo chịu được khoảng 3,5 giờ trong nước có oxy chỉ bằng 5% mức bão hòa không khí ở 25°C, trong khi một số phản xạ thần kinh vẫn được duy trì. Đây là kết quả trong điều kiện thí nghiệm cụ thể, không có nghĩa cá có thể sống nhiều giờ trên cạn trong mọi nhiệt độ và hoàn cảnh.
SecretChina còn nêu kết quả trong môi trường không có oxy ở nhiệt độ tới khoảng 30°C. Các nghiên cứu sinh lý học công bố mô tả khả năng chịu thiếu hoặc không có oxy trong thời gian ngắn ở nhiệt độ vùng nhiệt đới; điều kiện, thời lượng và phản ứng quan sát được khác nhau theo từng thí nghiệm. Khi oxy giảm sâu, nhịp hô hấp, nhịp tim và trao đổi chất có thể giảm. Bài nguồn còn mô tả mạch máu giãn để ưu tiên tưới máu cho não và tim. SecretChina mô tả não giảm hoạt động ở một số vùng để giữ năng lượng cho chức năng thiết yếu. Nghiên cứu đối chiếu về đáp ứng protein tại tiểu não và tuyến trực tràng cho thấy những điều chỉnh sinh lý khi thiếu oxy; nghiên cứu này không xác nhận sự ức chế trao đổi chất kéo dài ở hai mô được khảo sát. Khả năng di chuyển ở nước rất nông và sức chịu thiếu oxy bổ trợ cho nhau trong một sinh cảnh thay đổi từng giờ theo thủy triều.
Tìm mồi trong vũng triều
Cá mập vai áo ăn giun, cua, cá xương nhỏ và những động vật nhỏ khác trên nền biển. Theo SecretChina, ở khu vực đảo Heron, giun nhiều tơ và cua là hai nhóm mồi chủ yếu; cá non thiên về giun, còn cá trưởng thành ăn cua nhiều hơn. Nghiên cứu phân tích dạ dày tại rạn Heron cho thấy chỉ số tầm quan trọng tương đối của giun là 51,3%, của cua là 40,1%; tổng hai chỉ số vượt 90%, nhưng không nên hiểu là tỷ lệ khối lượng toàn bộ thức ăn. Những nhóm còn lại trong nghiên cứu gồm tôm, cá nhỏ và giáp xác chân khác.
Loài cá tìm mồi bằng khứu giác và khả năng cảm nhận tín hiệu điện yếu, rồi thò mõm vào cát hoặc vụn san hô. Nó có thể hút cả mồi và cát vào miệng, sau đó đẩy cát qua khe mang. Theo bài nguồn, nó đôi khi nhai cua suốt 5–10 phút; răng có thể gập và dẹt xuống khi xử lý con mồi có vỏ cứng.
Đời sống của cá mập vai áo cho thấy một loài săn mồi cỡ nhỏ thích nghi với rạn san hô nông bằng nhiều đặc điểm kết hợp. Động tác “đi bộ” gây chú ý, nhưng giá trị sinh học của nó rõ hơn khi đặt cạnh nhịp thủy triều, nguồn thức ăn và sức chịu thiếu oxy.
Tác giả biên soạn bài gốc: Lâm Sâm (林森). Nguồn bài: SecretChina, 25/9/2026. Đối chiếu các tóm tắt nghiên cứu về chuyển động, thiếu oxy, phản ứng với thiếu oxy và khẩu phần. Đây là bài khoa học về một loài đã được nghiên cứu từ trước, không phải phát hiện mới ngày 30/9.

