Phong trào “Đại Nhảy Vọt” bắt đầu từ năm 1958 tại Trung Quốc đã gây ra một nạn đói lớn chưa từng có. Trong khi hàng chục triệu người dân không có đủ cái ăn, thậm chí phải chết trong cơn đói khát, thì điều kiện sinh tồn của các quan chức các cấp lại tạo nên một sự tương phản rõ rệt với người dân thường. Trong thảm họa đầy rẫy những lời dối trá và sự che đậy này, liệu các quan chức các cấp là những kẻ lừa dối hay cũng là nạn nhân? Quan điểm lưu truyền bấy lâu nay quy trách nhiệm thảm họa này cho “ba năm thiên tai” và “Liên Xô đòi nợ” liệu có đứng vững trước sự kiểm chứng của lịch sử?
Xoay quanh những vấn đề này, nhiều chuyên gia học giả trong và ngoài nước đã tiến hành điều tra và nghiên cứu lâu dài, trong đó có cựu phóng viên cấp cao của Tân Hoa Xã, Dương Kế Thằng. Thông qua khối lượng lớn các cuộc điều tra và phân tích sử liệu, Dương Kế Thằng chỉ ra rằng, nếu nói nạn đói lớn này là một “nhân họa”, thì trách nhiệm của nó không chỉ giới hạn ở thể chế trừu tượng, mà được thể hiện cụ thể qua hành vi của các quan chức các cấp. Ông cho rằng, cán bộ các cấp đã đóng vai trò là kẻ khởi xướng “nhân họa” trong thảm họa này, và phong khí này không phải bắt đầu từ “Đại Nhảy Vọt”, mà đã dần hình thành từ thời kỳ Diên An trong giai đoạn đầu của ĐCSTQ.
Dương Kế Thằng chỉ ra, dưới thể chế tập quyền cao độ, hiện tượng cán bộ và gia đình họ ăn nhiều, chiếm nhiều tồn tại rất phổ biến.
Cán bộ đặc quyền
Theo điều tra của Dương Kế Thằng, trong thời kỳ nạn đói lớn, nhà ăn cơ sở trở thành nơi quan trọng để cán bộ ăn nhiều, chiếm nhiều. Lương thực, bánh lớn, thịt, cá… những thức ăn mà người dân thường khó lòng nhìn thấy, thì ở không ít nơi lại được cán bộ cơ sở thụ hưởng thông qua nhà ăn. Những cán bộ cơ sở này chủ yếu là để đảm bảo cho bản thân và gia đình được ăn no. Khi đó trong dân gian lưu truyền rất nhiều câu vè, ví dụ như “Công nhân ăn một lạng, không chết đói đội trưởng; công nhân ăn một tiền, không chết đói quản lý”, phản ánh một cách hình tượng những đặc quyền mà cán bộ cơ sở và nhân viên quản lý được hưởng.
Một số cán bộ cơ sở thậm chí còn lợi dụng thức ăn trong tay làm công cụ trao đổi, dụ dỗ hoặc ép buộc phụ nữ quan hệ tình dục. Cho đối phương một chiếc bánh liền yêu cầu ngủ cùng, những chuyện loại này lúc bấy giờ thấy nhiều không kể xiết. Trong môi trường đói khát phổ biến, quyền lực và thức ăn kết hợp chặt chẽ với nhau, biến tướng thành bạo lực và áp bức trần trụi.
Ở cơ sở đã như vậy, càng lên cấp cao, hiện tượng đặc quyền càng nghiêm trọng. Trong tác phẩm của mình, Dương Kế Thằng có đề cập, Bí thư Tỉnh ủy Cam Túc Trương Trọng Lương khi đi khảo sát đã từ chối ăn cơm do nông dân cung cấp, mà yêu cầu Khách sạn Lan Châu mỗi ngày phái xe chuyên dụng đưa cơm đến. Khách sạn Lan Châu khi đó là khách sạn có điều kiện tốt nhất toàn tỉnh, tương đương với khách sạn 5 sao ngày nay, đồ ăn cung cấp đương nhiên không phải là thức ăn bình thường.
Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Tứ Xuyên Lý Tỉnh Tuyền thì hưởng lạc dài hạn tại khu vui chơi giải trí cao cấp dành cho cán bộ ở Phan Gia Bình, Trùng Khánh, ngày ngày ăn uống vui chơi, tối đến còn nghe “đường hội” (biểu diễn riêng), có diễn viên hát kịch, chiếu phim phục vụ riêng. Những trường hợp như thế này trong giới cán bộ cao cấp không phải là cá biệt, chỉ là do vấn đề lưu trữ hồ sơ tài liệu, nên bên ngoài mới nắm được chính xác chủ yếu là trường hợp của Lý Tỉnh Tuyền và Trương Trọng Lương.
Dương Kế Thằng chỉ ra rằng, trong thể chế quyền lực tập trung cao độ, chỉ cần nắm giữ quyền lực thì tham nhũng gần như là không thể tránh khỏi. Cán bộ sở hữu quyền lực tuyệt đối, lời nói có sức nặng ngàn cân, bất kỳ ai đưa ra ý kiến bất đồng đều sẽ lập tức bị trả thù, trù dập, thậm chí bị đẩy vào chỗ chết.
Mặc dù những hành vi này bề ngoài thuộc về hành vi cá nhân, nhưng Dương Kế Thằng nhấn mạnh, nguồn gốc của nó nằm ở chính bản thân thể chế. Chính thể chế đã nhào nặn và dung túng cho loại hành vi cá nhân này. Tất nhiên, trong đội ngũ cán bộ cũng không phải không có ngoại lệ. Một số rất ít cán bộ vì kiên trì nguyên tắc mà không được hưởng sự chăm sóc đặc biệt, thậm chí bị chết đói trong nạn đói. Dương Kế Thằng cho rằng, chính những cán bộ chết đói trong nạn đói này mới là những cán bộ tốt thực sự.
Trên thực tế, cách làm cán bộ được hưởng chế độ ăn uống đặc biệt này không phải bắt đầu từ “Đại Nhảy Vọt”. Từ thời kỳ Diên An, nội bộ ĐCSTQ đã hình thành chế độ “tiểu táo, trung táo và đại táo” (bếp nhỏ, bếp vừa và bếp lớn): Cán bộ cao cấp ăn bếp nhỏ, cán bộ trung cấp ăn bếp vừa, cán bộ bình thường và binh lính thì ăn cơm bếp lớn (cơm tập thể). Chế độ đãi ngộ sinh hoạt phân cấp rõ ràng này đã trở thành truyền thống tồn tại lâu dài trong đảng.
Trong phong trào Chỉnh phong Diên An năm 1942, Vương Thực Vị, nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu Trung ương ĐCSTQ từng đăng bài tản văn “Dã Bách Hợp” trên tờ “Giải Phóng Nhật Báo”, phê bình gay gắt chế độ đẳng cấp sâm nghiêm của cán bộ Diên An, mô tả là “ăn chia năm đẳng, mặc chia ba màu”. Ông chỉ ra, cán bộ cao cấp không chỉ được bố trí bếp nhỏ, mà còn có nhân viên cấp dưỡng, cảnh vệ và cần vụ; Ủy viên Trung ương ăn bếp nhỏ, cán bộ trung cấp ăn bếp vừa, chiến sĩ bình thường chỉ được ăn cơm bếp lớn. Vương Thực Vị còn phê bình hiện tượng lãnh đạo cấp cao ĐCSTQ tổ chức vũ hội vào mỗi cuối tuần. Sau đó, ông bị quy là “phần tử phái Trotsky” trong “Phong trào giải cứu người lầm lỡ”, bị giam cầm và bị xử bắn vào năm 1947.
Bước sang thập niên 50 của thế kỷ trước, quan chức Trung Quốc được phân chia rõ ràng thành 30 cấp bậc. Ngay cả trong thời kỳ nạn đói nghiêm trọng nhất, cán bộ cấp 17 (tương đương cấp Trưởng phòng) trở lên mỗi tháng vẫn được cấp thêm 2 cân đậu nành, 1 cân đường trắng; cán bộ cấp 13 (tương đương cấp Phó Giám đốc sở/cục) trở lên mỗi tháng được thêm 2 cân thịt lợn, 2 cân trứng gà, 1 cân đường trắng; còn cán bộ cao cấp cấp 8 (tương đương cấp Phó Tỉnh/Quân đoàn) trở lên, mỗi tháng được cấp thêm 4 cân thịt lợn, lượng cung ứng các thực phẩm khan hiếm khác cũng tăng gấp đôi so với cán bộ cấp dưới.
Dưới sự sắp đặt của thể chế như vậy, cho dù cả nước đang trong thời kỳ cực kỳ khó khăn, cán bộ cao cấp và cán bộ từ một cấp bậc nhất định trở lên vẫn có thể nhận được sự chăm sóc đặc biệt.
Năm 1960, Hà Nam đã tổ chức “Hội nghị Kê Công Sơn” nổi tiếng trong thời kỳ khó khăn nhất. Kê Công Sơn nằm ở vùng giáp ranh Vũ Thắng Quan giữa Hà Nam và Hồ Bắc, trên núi có rất nhiều biệt thự nhỏ. Khi đó Kê Công Sơn chưa có đường quốc lộ, các cán bộ tham dự hội nghị được những người nông dân đói khát, gầy gò dùng cáng khiêng từng người một lên núi. Những người nông dân này khiêng những cán bộ béo tốt leo lên đỉnh núi.
Trong thời gian hội nghị, các cán bộ sáng họp, trưa nghỉ trưa, chiều ăn dưa hấu, trên bàn ăn đầy đủ gà vịt cá thịt. Hội nghị kéo dài tròn một tháng. Khi đó Chủ nhiệm Hội Liên hiệp Phụ nữ khu vực Tín Dương là Lý Thụy Anh chứng kiến tất cả những điều này, trong lòng khó mà chấp nhận nổi. Bà cho rằng, trong hoàn cảnh nông dân chết đói hàng loạt, cuộc sống hội nghị như vậy bản thân nó đã là một sự mỉa mai nghiêm trọng.
Bưng bít che đậy
Dương Kế Thằng chỉ ra, hội nghị lần này do Tỉnh ủy Hà Nam triệu tập, mục đích cốt lõi không phải là giải quyết vấn đề, mà là để “bưng bít” (nguyên văn: ngô cái tử – đậy nắp vung). Trung ương đã biết khu vực Tín Dương xảy ra hiện tượng người chết đói quy mô lớn, còn Tỉnh ủy thì cố gắng làm nhẹ vấn đề, tuyên bố không xảy ra nạn đói nghiêm trọng, mượn đó để che đậy tội ác để người dân chết đói.
Hội nghị diễn ra vào tháng 7 năm 1960, đúng lúc tình hình cả nước khó khăn nhất. Trước đó, “Sự kiện Tín Dương” đã bị lộ, nhưng về việc rốt cuộc có bao nhiêu người chết đói, bên ngoài tồn tại sự bất đồng lớn, có người nói 30 vạn, có người nói 70 vạn, thậm chí có người cho rằng gần hoặc hơn 100 vạn người. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của hội nghị lần này chính là thống nhất khẩu khí, quyết định con số tử vong để báo cáo lên trên.
Theo tài liệu được tiết lộ sau này, tháng 7 năm 1960, vào thời kỳ nạn đói Tín Dương nghiêm trọng nhất, Tỉnh ủy Hà Nam của ĐCSTQ đã tổ chức Hội nghị mở rộng Địa ủy Tín Dương tại Kê Công Sơn, quán triệt toàn diện tinh thần “bưng bít” do Tỉnh ủy xác định. Trương Thụ Phiên, Chuyên viên Hành chính khu vực Tín Dương, trong bài hồi ký “Sự kiện Tín Dương: Một bài học lịch sử đau đớn” đã viết, mục đích của hội nghị lần này nằm ở việc thống nhất nhận thức, thu nhỏ mức độ nghiêm trọng của vấn đề, tiếp tục khẳng định cái gọi là “tình hình cực tốt”.
Dư Đức Hồng, thư ký của Trương Thụ Phiên nhớ lại rằng, mặc dù Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy Hà Nam Ngô Chi Phố không tham dự hội nghị, nhưng giọng điệu của hội nghị cơ bản thể hiện ý đồ của ông ta, tức là tránh nặng tìm nhẹ, không đụng chạm đến vấn đề thực chất. Nguyên Bí thư Địa ủy Tín Dương Lộ Hiến Văn trong bài phát biểu tổng kết chỉ kiểm điểm qua loa hời hợt, hoàn toàn né tránh vấn đề cốt lõi là người chết đói.
Dư Đức Hồng chỉ ra, lúc đó Tỉnh ủy quy định rõ không cho phép bàn luận về tình hình người chết đói, các báo cáo liên quan không được truyền đạt xuống dưới, chỉ có thể giải thích việc tử vong quy mô lớn là do “bệnh phù thũng” hoặc “dịch bệnh”. Tài liệu kiểm điểm của Lộ Hiến Văn cũng chỉ giới hạn trong những cách diễn đạt này. Khi Dư Đức Hồng lén lút phát tán tài liệu này trong cán bộ, ngược lại đã vì thế mà bị phê phán. Đây chính là hành vi “bưng bít” điển hình.
Trong môi trường chính trị như vậy, cán bộ cơ sở biết rõ lương thực thiếu hụt nghiêm trọng, nhưng vẫn không ngừng báo cáo “vệ tinh năng suất cao”. Dương Kế Thằng chỉ ra, điều này đã trở thành một phong khí chính trị phổ biến. Dưới logic chính trị thời đó, hậu quả trực tiếp của việc nói dối chưa được nhận thức đầy đủ, mọi người vẫn dùng quan niệm truyền thống “chém gió không mất thuế”, chưa nhận ra việc báo khống sản lượng cuối cùng sẽ dẫn đến nhiệm vụ thu mua lương thực cao hơn.
Quan trọng hơn, những cán bộ không hùa theo sự tuyên truyền dối trá này thường sẽ gặp hậu quả nghiêm trọng. Năm 1958, Công xã Kiến Quốc, huyện Ma Thành, tỉnh Hồ Bắc báo cáo “vệ tinh năng suất cao” 3 vạn 6 nghìn cân mỗi mẫu. Bí thư Đảng ủy công xã này ban đầu không muốn phối hợp làm giả, từng cố gắng chống lại, nhưng vì thế mà bị đánh thành phần tử cơ hội hữu khuynh, bị cải tạo lao động nhiều năm. Năm 1962 tuy được minh oan, nhưng không được khôi phục chức vụ.
Sau cải cách mở cửa, “Ma Thành ba vạn sáu” đã được công nhận là một vụ án làm giả chính trị điển hình. Tuy nhiên, do chân tướng lịch sử bị che đậy trong thời gian dài, vị Bí thư Đảng ủy năm xưa lại phải gánh tiếng xấu. Mọi người chỉ vào bóng lưng ông trên đường châm biếm ông là kẻ làm giả “ba vạn sáu”. Bản thân ông có miệng mà không thể biện bạch, chịu đựng nỗi oan ức trong thời gian dài. Mãi cho đến khi con trai ông tra cứu hồ sơ, chứng thực cha mình chính là vì chống lại việc làm giả mà bị trù dập, rồi viết sự thật thành bài báo đăng trên tạp chí “Viêm Hoàng Xuân Thu”, dư luận mới dần thay đổi.
Tình trạng tương tự không hiếm gặp ở khu vực Tín Dương. Dư Đức Hồng nhớ lại, phàm là những cán bộ dám vạch trần vấn đề, kiên trì nói thật, gần như không có ngoại lệ đều bị đánh thành phần tử cơ hội hữu khuynh, và bị chụp mũ tội danh chính trị như “phủ định Tam diện hồng kỳ”.
Trong thời gian Trương Thụ Phiên bị đấu tố, vợ ông, lúc đó là Ủy viên Địa ủy Tín Dương kiêm Chủ nhiệm Hội Liên hiệp Phụ nữ Lý Thụy Anh vâng lệnh dẫn đầu tổ công tác đến Công xã Kê Công Sơn tổng kết kinh nghiệm lúa nước mẫu sản vạn cân. Trong quá trình điều tra, bà phát hiện cái gọi là “điển hình năng suất cao” hoàn toàn là làm giả. Bà lập tức lấy danh nghĩa tổ công tác yêu cầu Địa ủy Tín Dương điều chuyển 21 vạn cân lương thực cho Công xã Kê Công Sơn, nhưng cũng vì thế mà gặp phải tai họa tương tự.
Dư Đức Hồng đánh giá, vợ chồng Trương Thụ Phiên và Lý Thụy Anh tính tình thẳng thắn, kiên trì nói thật, chỉ ra “bội thu là giả, người chết đói là thật”. Tuy nhiên, trong bối cảnh chính trị lúc bấy giờ, bản thân việc nói ra những sự thật này đã trở thành một cái tội, cuối cùng cả hai đều bị quy là phần tử cơ hội hữu khuynh, chịu sự phê phán nghiêm khắc.
Theo Vision Times