Đại Kỷ Nguyên

Vì sao hoa quế được gọi là thiên hương? Truyền thuyết quế tử ở Thiên Trúc

Ảnh minh hoạ chùm hoa quế trong vườn vào mùa thu; không phải ảnh chụp một địa điểm lịch sử.

Ảnh minh hoạ hoa quế; không phải ảnh chụp chùa Thiên Trúc hoặc sự việc trong truyền thuyết.

Ảnh minh hoạ chùm hoa quế trong vườn vào mùa thu; không phải ảnh chụp một địa điểm lịch sử.
Ảnh minh hoạ hoa quế; không phải ảnh chụp chùa Thiên Trúc hoặc sự việc trong truyền thuyết.

Vì sao hoa quế được gọi là “thiên hương”? Bên cạnh hương thơm của loài cây quen thuộc trong mùa thu, thơ ca và thư tịch Trung Hoa còn lưu giữ câu chuyện về cây quế trên cung trăng, những “hạt quế” được kể là rơi xuống chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu. Đây là truyền thuyết và ghi chép cổ, không phải lời khẳng định về nguồn gốc thực vật của cây quế. Bài viết dựa trên bài của Khán Trung Quốc .

Hương hoa quế trong thơ và truyền thuyết

Vào mùa thu, trên nhiều con phố Nhật Bản có thể bắt gặp những chùm hoa nhỏ màu vàng cam giữa tán lá xanh sẫm, tỏa hương từ các khu vườn. Người Nhật gọi cây là kinmokusei, tức “kim mộc tê”; đó là loài hoa quế quen thuộc ở Trung Hoa. Cây được đưa từ Trung Quốc sang Nhật Bản và dần trở thành một dấu hiệu của mùa thu nơi đây.

Trong văn hóa Trung Hoa, hoa quế còn gắn với cung trăng. Tương truyền, hạt của cây quế trên mặt trăng rơi xuống nhân gian, được người ta nhặt và gieo trồng. Câu thơ của Tống Chi Vấn thời Đường, “Quế tử nguyệt trung lạc, thiên hương vân ngoại phiêu”, gợi cảnh hạt quế từ trăng rơi xuống, còn hương hoa lan ngoài mây.

Đoàn Thành Thức ghi trong Dậu Dương tạp trở rằng trên mặt trăng có cây quế cao năm trăm trượng. Dưới gốc cây, Ngô Cương bị phạt chặt cây vì từng phạm lỗi khi học tiên; vết chặt vừa xuất hiện đã liền lại. Hình ảnh ấy thuộc thế giới thần thoại, nhưng đã khiến cây quế đi vào trí tưởng tượng của nhiều thế hệ.

Chuyện “quế tử” rơi ở chùa Thiên Trúc

Vùng Linh Ẩn, Thiên Trúc tại Hàng Châu lưu truyền chuyện hạt quế rơi trong đêm trăng. Một ghi chép về núi Thiên Trúc kể rằng vào niên hiệu Thiên Bảo đời Đường, trước chùa từng có một hạt được cho là từ mặt trăng rơi xuống; về sau hạt mọc thành cây, còn ngọn núi lưu lại tên “Nguyệt Quế phong”.

Người thời Đường đến Hàng Châu cũng đem chuyện này vào thơ. Bạch Cư Dị viết trong Ức Giang Nam về việc tìm hạt quế dưới trăng tại chùa trên núi và ngắm thủy triều từ gối tựa ở đình quận. Lời tự chú trong bài Đông Thành Quế của ông nhắc tới chuyện chùa Thiên Trúc có “quế tử” rơi vào dịp Trung thu hằng năm.

Đến thời Bắc Tống, tăng nhân Tuân Thức ghi trong lời tựa bài Quế tử thi rằng ông từng chứng kiến những vật được gọi là “quế tử” rơi quanh điện chùa. Theo lời kể của ông, sự việc diễn ra vào những đêm trăng tháng bảy, tháng tám năm 1027. Chúng rơi dày như mưa, lớn bằng hạt đậu, tròn như ngọc, có hạt trắng, hạt vàng và hạt mang vân đen; một số còn lớp vỏ có vị cay. Người đương thời gọi đó là “hạt quế từ trăng”.

Ghi chép nói các quan chức Hàng Châu như Hồ Tắc, Trần Cật và Tôn Dục cũng tham gia niêm phong, trình nộp những vật ấy. Tuân Thức cho biết đã nghe kể chuyện “quế tử” rơi trong mười hai năm sống trên núi, nhưng đây là lần đầu ông tận mắt nhìn thấy. Bài nguồn thuật lại những lời ghi trong thư tịch; bản thân câu chuyện không xác định được nguồn gốc thực vật của các hạt.

Tuân Thức kể rằng ông gieo những hạt nhặt được dưới rừng. Hơn mười ngày sau vỏ nứt, khoảng một tháng sau cây non cao chừng một tấc. Mùa xuân năm sau, ông chuyển hai mươi lăm cây đến gần hiên Cổ Hội dưới núi Bạch Viên, đổi tên nơi ấy thành “Nguyệt Quế đình”, rồi khắc hai bài thơ để ghi lại câu chuyện.

Trong một bài thơ, Tuân Thức viết đại ý rằng Hằng Nga có ý gửi cây tiên vượt mây xuống núi chùa. Bì Nhật Hưu đời Đường cũng từng làm thơ về cảnh nhặt những “viên ngọc” dưới trăng trước điện chùa Thiên Trúc và tự hỏi phải chăng Hằng Nga đã ném chúng xuống nhân gian. Thơ và ghi chép đan vào nhau, khiến chuyện quế ở Thiên Trúc tiếp tục được kể lại.

Từ “thiên hương” đến kim mộc tê

Hoa quế không chỉ ở lại trong thơ. Cây được trồng trong sân chùa, vườn nhà, rồi lan tới những vùng đất khác. Bài nguồn dẫn tư liệu vườn thực vật Nhật Bản cho biết kim mộc tê có nguồn gốc ở Trung Quốc và thường được cho là du nhập vào Nhật vào thời Edo. Cây lá xanh quanh năm ấy nay hiện diện ở sân vườn, công viên và các con phố Nhật Bản.

Tên “mộc tê” có hai cách viết bằng chữ Hán, bắt nguồn từ cách người xưa liên tưởng hoa văn vỏ cây với da tê giác. Trong tiếng Nhật, “kim mộc tê” chỉ loại nở hoa vàng cam, còn “ngân mộc tê” chỉ loại hoa trắng. Tên gọi giữ dấu vết của sự giao lưu văn hóa cùng với hương thu của loài cây.

Khi gọi hoa quế là “thiên hương”, người xưa không chỉ ca ngợi mùi hương. Họ còn gợi lại tích Ngô Cương, những câu thơ về trăng và chuyện “quế tử” ở Thiên Trúc. Từ những cành hoa có thật trong khu vườn đến cây quế trong truyền thuyết, mỗi lớp ý nghĩa góp phần làm nên sức sống lâu dài của loài hoa trong văn hóa Á Đông.

Nguồn: Khán Trung Quốc.

Exit mobile version