
Những tên gọi Lợi Mã Đậu, Thang Nhược Vọng, Nam Hoài Nhân hay Lang Thế Ninh mang dáng vẻ của người đọc sách Trung Hoa. Phía sau chúng là các giáo sĩ châu Âu, những người học ngôn ngữ, thích nghi với phong tục và góp phần vào giao lưu tri thức Đông – Tây.
Nếu chỉ viết những cái tên ấy lên giấy mà không cho biết chủ nhân, nhiều người có thể tưởng đó là các sĩ đại phu Minh, Thanh. “Lợi Mã Đậu” gợi nét cổ; “Thang Nhược Vọng” giống tên một người đọc sách vùng Giang Nam; còn chữ “Hoài Nhân” khiến người ta liên tưởng đến đức nhân Nho gia. Thực ra, họ đều là giáo sĩ Công giáo Dòng Tên từ châu Âu đến Trung Quốc. Vì sao họ chọn tên Trung Hoa?
Lợi Mã Đậu: Người Italy thành nhà Nho từ phương Tây
Năm 1583, một người Italy đến Triệu Khánh, Quảng Đông. Sinh tại Macerata với tên Matteo Ricci, ông từng học triết, thần học và toán ở Rome, theo học nhà toán học Christopher Clavius. Ở Trung Quốc, ông dùng tên Lợi Mã Đậu, về sau rất quen thuộc với người dân. “Mã Đậu” có quan hệ phiên âm với Matteo, còn “Lợi” trở thành họ.
Ông còn có hiệu Tây Thái và Thanh Thái, theo tập quán giới đọc sách Trung Hoa. Cách gọi “Lợi Tây Thái” khiến ông nghe gần với một học giả đời Minh.
Đó không chỉ là thay tên. Ban đầu, Ricci mặc áo tu sĩ Công giáo; về sau nhận ra giới Nho sĩ giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa nhà Minh, ông đổi sang Nho phục, để râu, đội mũ và giao du theo lối người đọc sách. Trong số bạn hữu dần có Từ Quang Khải, Lý Chi Tảo và những trí thức khác.
Ricci không chỉ mang theo tôn giáo mà còn kiến thức toán, thiên văn và địa lý phương Tây. Ông cùng Từ Quang Khải dịch sáu quyển đầu “Cơ sở” của Euclid. Theo bài nguồn, hệ thống thuật ngữ hình học Trung văn quen thuộc ngày nay, gồm điểm, đường và mặt, dần hình thành qua sự giao lưu tri thức cuối Minh này.
Năm 1610, Ricci mất tại Bắc Kinh. Theo chế độ nhà Minh, người nước ngoài thường không được chôn trong kinh thành, nhưng Hoàng đế Vạn Lịch cuối cùng ban đất an táng. Người giáo sĩ từ Italy yên nghỉ ở Bắc Kinh, và Matteo Ricci mãi gắn với tên Lợi Mã Đậu.
Thang Nhược Vọng: Tên Trung Hoa đi vào sử Thanh
Tám năm sau khi Ricci mất, một giáo sĩ khác lên đường từ châu Âu sang Trung Quốc: Johann Adam Schall von Bell. Ông dùng tên ngắn gọn Thang Nhược Vọng. Theo giải thích của bài nguồn, họ Thang gắn với Adam, còn Nhược Vọng liên quan Johann, tương ứng Johannes trong tiếng Latin và John trong tiếng Anh. Nhược Vọng đến nay vẫn là một cách dịch truyền thống của tên John trong Công giáo Trung văn.
Cuối Minh, triều đình gặp vấn đề thực tế: lịch truyền thống sai lệch trong tính thiên tượng. Năm 1629, triều đình lập lịch cục do Từ Quang Khải chủ trì cải lịch. Thang Nhược Vọng cùng các giáo sĩ dựa vào thiên văn học phương Tây tham gia.
Sau khi quân Thanh vào Trung Quốc, ông dâng bộ lịch đã biên soạn cho triều đại mới. Năm 1645, lịch mới được ban hành, về sau thường gọi là Thời Hiến lịch. Ông vào Khâm Thiên Giám và ngày càng có quan hệ mật thiết với triều đình. Một giáo sĩ sinh ở vùng đất Đức trở thành quan viên quan trọng phụ trách thiên văn, lịch pháp của một vương triều Trung Hoa.
Nam Hoài Nhân: Một tên gọi đậm nét Nho gia
Ferdinand Verbiest mang tên Nam Hoài Nhân. Khó nhìn ba chữ ấy mà nghĩ đến một giáo sĩ Dòng Tên xứ Flanders thế kỷ XVII. “Hoài Nhân” là từ tao nhã, còn “nhân” là một trong những quan niệm trọng yếu của Nho gia, nên tên gọi có sắc thái Nho học.
Sinh năm 1623, Verbiest đến Trung Quốc trong thập niên 1650. Khi Thang Nhược Vọng vướng vụ án lịch pháp, thiên văn phương Tây từng bị bài xích. Sau khi Khang Hy nắm quyền, Nam Hoài Nhân đối chiếu tính toán thiên văn với phe Dương Quang Tiên; phương pháp Tây phương cuối cùng lấy lại lòng tin của triều đình.
Năm 1669, ông bắt đầu chủ trì công việc lịch pháp, rồi giữ chức tại Khâm Thiên Giám. Ông thiết kế lại và chế tạo một loạt dụng cụ thiên văn lớn. Đến đài thiên văn cổ Bắc Kinh ngày nay vẫn có thể thấy dấu tích giao lưu khoa học thời ấy.
Họa sĩ cung đình Lang Thế Ninh
Năm 1715, chàng trai Italy 27 tuổi Giuseppe Castiglione đến Trung Quốc và được biết đến dưới tên Lang Thế Ninh. Lang vốn là một họ Trung Hoa; “Thế Ninh” gợi cuộc đời, thiên hạ yên bình.
Ông đến với sứ mệnh truyền giáo, nhưng tài hội họa thay đổi đường đời. Được học hội họa châu Âu từ nhỏ, hiểu phối cảnh, sáng tối và tạo khối, ông vào cung đình Bắc Kinh làm việc suốt nửa thế kỷ, trải qua ba triều Khang Hy, Ung Chính và Càn Long.
Hội họa cung đình Trung Hoa coi trọng đường nét, bút mực và quy thức truyền thống; hội họa châu Âu chú trọng phối cảnh, ánh sáng và không gian ba chiều. Lang Thế Ninh dần tìm cách dung hòa: dùng giấy lụa, bút lông, màu Trung Hoa, đồng thời đưa vào tả thực, phối cảnh và sáng tối phương Tây. Những tác phẩm như “Bách tuấn đồ” ra đời trong quá trình ấy.
Năm 1766, ông mất tại Bắc Kinh. Giuseppe Castiglione từ Milan cuối cùng bước vào lịch sử mỹ thuật Trung Hoa dưới tên Lang Thế Ninh.
Khi tên Hán đi cùng những công trình về phương Đông
Thế kỷ XIX đem đến diện mạo khác của các giáo sĩ. Năm 1807, giáo sĩ Tin Lành người Anh Robert Morrison đến Trung Quốc, lấy tên Mã Lễ Tốn. Cách đặt tên đã tương đối định hình: chọn một họ Trung Hoa rồi ghép hai chữ vừa gợi âm tên gốc vừa có nghĩa. “Lễ Tốn” mang phong vị người đọc sách truyền thống, còn toàn tên có nét tương ứng âm thanh với Morrison.
Ông dành nhiều năm học tiếng Trung, tham gia hoàn thành bản dịch toàn bộ Kinh Thánh và biên soạn từ điển Hoa – Anh lớn. Trong giao lưu ngôn ngữ đầu thế kỷ XIX, tên Mã Lễ Tốn có ý nghĩa vượt khỏi một danh xưng giáo sĩ.
James Legge, thuộc thế hệ sau, lấy tên Lý Nhã Các. Lý là họ; Nhã Các gắn với cách dịch tên trong truyền thống Kitô giáo tương ứng James. Các chữ ghép lại còn gợi sự nhã chính của nghĩa lý.
Sinh năm 1815 tại Scotland, Legge về sau phụ trách Anh Hoa thư viện ở Malacca và Hong Kong. Ông dành phần lớn công sức nghiên cứu kinh điển Nho gia. Từ năm 1861, ông lần lượt dịch “Luận Ngữ”, “Mạnh Tử”, “Thượng Thư”, “Kinh Thi”, “Xuân Thu” và các sách khác sang tiếng Anh, đưa vào bộ nhiều tập “The Chinese Classics”. Năm 1876, ông trở thành giáo sư Hán học đầu tiên của Đại học Oxford.
Hình ảnh một người Scotland tên James Legge đứng trên bục giảng Oxford dạy sinh viên phương Tây về Khổng Tử, Mạnh Tử và văn minh Trung Hoa cho thấy ranh giới giữa giáo sĩ và nhà Hán học dần bớt rõ. Họ học tiếng để truyền giáo, nhưng có người đi sâu vào “Luận Ngữ”, “Dịch Kinh”, “Đạo Đức Kinh”; tên Hán ban đầu để tiện xưng hô cuối cùng được lưu truyền cùng tác phẩm.
Richard Wilhelm là một ví dụ về sau. Giáo sĩ Đức dùng tên Vệ Hy Thánh, tự Lễ Hiền, nên thường được gọi Vệ Lễ Hiền. Ông đến Thanh Đảo năm 1899, rồi nghiên cứu điển tịch Trung Hoa, nổi tiếng nhất với bản “Dịch Kinh” tiếng Đức. Bản này sau được dịch sang tiếng Anh và có ảnh hưởng tại phương Tây thế kỷ XX.
Từ Lợi Mã Đậu, Thang Nhược Vọng, Nam Hoài Nhân đến Mã Lễ Tốn, Lý Nhã Các, Vệ Lễ Hiền, các tên ấy khó chỉ gọi là phiên âm. Chúng là một lớp căn tính hình thành qua đời sống của họ ở Trung Quốc. Có người mặc Nho phục, có người vào Khâm Thiên Giám, có người cầm bút lông, có người dịch Tứ thư, Ngũ kinh.
Sau nhiều thập niên, tên châu Âu dài của họ có thể trở nên xa lạ với người Trung Quốc, trong khi tên Hán vẫn được nhớ. Sang thế kỷ XX, những người phương Tây đến Trung Quốc không nhất thiết còn là giáo sĩ, mà có thể là giáo sư Harvard, sử gia Yale hay nhà nghiên cứu khoa học Cambridge. Họ vẫn chọn tên Hán: John King Fairbank là Phí Chính Thanh, Joseph Needham là Lý Ước Sắt, Philip Kuhn là Khổng Phi Lực và Jonathan Spence là Sử Cảnh Thiên. Bài nguồn dành câu chuyện về thế hệ này cho phần tiếp theo.
Theo Epoch Times, loạt “Tạp đàm Bách gia tính”. Nguồn bài. Tài liệu tham khảo của nguồn gồm từ điển Bộ Giáo dục Đài Loan, tài liệu Bảo tàng Cố Cung Đài Bắc về Lang Thế Ninh, tư liệu Oxford và Global Daoism Archive về James Legge, cùng tài liệu lịch sử giao lưu Đông – Tây.
