
Trong lúc xây dựng một quốc gia, một số nhà lập quốc Mỹ còn chế tác nhạc cụ và gây dựng thư viện âm nhạc. Benjamin Franklin, Francis Hopkinson và Thomas Jefferson cho thấy nghệ thuật có vị trí thế nào trong đời sống tinh thần của nước Mỹ thuở đầu.
Các nhà lập quốc Mỹ chia sẻ khát vọng tự do, độc lập và quyền cá nhân. Họ cũng chia sẻ tình yêu âm nhạc; một số người tự mình chơi nhạc. Với họ, âm nhạc không chỉ là thú vui mà còn là hoạt động quan trọng, góp phần bồi dưỡng đức hạnh, tính cách và tác động tích cực tới nhiều mặt đời sống.
Thị hiếu của họ khá đa dạng, từ dân ca tới opera. Những nhạc cụ họ chơi đôi khi còn đặc biệt hơn cả những bản nhạc họ yêu thích. Trong số đó, đóng góp của Franklin, Hopkinson và Jefferson cho thấy tầm quan trọng của nghệ thuật đối với nền văn minh Mỹ đang hình thành. Tình yêu âm nhạc là một sợi dây gắn kết bên cạnh lòng yêu tự do.
Một Leonardo của nước Mỹ
Tháng 10/1776, Benjamin Franklin lên tàu sang Pháp, nơi ông trở thành nhà ngoại giao quan trọng trong việc tìm kiếm hậu thuẫn tài chính và hỗ trợ cho cuộc chiến giành độc lập.
Tình yêu âm nhạc và phát minh nhạc cụ của ông có từ trước chuyến đi ấy. Theo Viện Franklin, việc nghệ sĩ nghiệp dư biểu diễn trên những bộ ly phát âm từng là hình thức giải trí phổ biến. Franklin dự một buổi diễn, bị vẻ đẹp âm thanh cuốn hút và bắt đầu tạo phiên bản riêng. Nhạc cụ của ông được chế tạo tại London năm 1761.
Franklin hợp tác với một thợ thủy tinh ở London. Các ly truyền thống phải chứa những lượng nước khác nhau để tạo cao độ; phát minh của ông không cần cách làm này. Ba mươi bảy bát thủy tinh với kích thước khác nhau được ghép bằng nút bần trên một thanh sắt, có thể quay bằng bàn đạp chân.
Kích thước khác nhau giúp mỗi bát phát một cao độ riêng. Mép bát được sơn màu để nhận biết các nốt. Khi trục quay, ngón tay làm ẩm chạm vào thủy tinh tạo ma sát, phát ra âm thanh thanh thoát. Ông gọi nhạc cụ là “armonica”, từ tiếng Italy “armonia”, nghĩa là hòa âm. Về sau, nó được gọi là glass armonica.
Vợ ông, Deborah, ví giai điệu ấy với âm nhạc của thiên thần. Franklin là nhạc sĩ nghiệp dư biết chơi nhiều nhạc cụ, trong đó có violin, harp, guitar và viola da gamba. Armonica đem lại cho ông niềm mãn nguyện đặc biệt; ông từng viết rằng trong các phát minh, glass armonica mang lại sự hài lòng cá nhân nhiều nhất.
Tinh thần tò mò, sáng tạo giúp Franklin làm ra nhiều phát minh, gồm cột thu lôi, kính hai tròng và ống thông mềm, khiến ông được so sánh với nhà bác học Phục Hưng Leonardo da Vinci. Nhà sử học George Goodwin gọi ông là một Leonardo của thời đại mình.
Hoàn thành năm 1761, glass armonica trở thành một nhạc cụ nổi tiếng của thế kỷ XVIII. Âm sắc của nó còn hiện diện trong tác phẩm của Beethoven và Mozart. Vài thập niên sau, một nhà lập quốc khác, được gợi cảm hứng bởi sự sáng tạo ấy, cải biến nhạc cụ để tạo ra phát minh của riêng mình.
Một người mở đường trong sáng tác ở Mỹ
Năm 1787, Francis Hopkinson, người ký Tuyên ngôn Độc lập đại diện New Jersey, hoàn thiện nhạc cụ bellarmonic, còn gọi bellarmonica. Ông thay các bát thủy tinh dễ vỡ bằng chuông thép bền hơn, gắn thêm một dạng bàn phím sơ khai, giúp nhạc cụ an toàn và dễ chơi hơn. Trong khi armonica của Franklin thịnh hành tới cuối thế kỷ XVIII, biến thể của Hopkinson vẫn tương đối ít được biết đến.
Trung tâm Hiến pháp Quốc gia Mỹ mô tả Hopkinson là người có trí óc đầy sáng tạo âm nhạc. Ông chơi được harpsichord và organ, đồng thời được ghi nhận là nhà soạn nhạc thế tục đầu tiên sinh tại Mỹ.
Năm 1759, ông viết giai điệu cho “My Days Have Been So Wondrous Free”, lời của nhà thơ Anh–Ireland Thomas Parnell. Bản ballad nói về hạnh phúc và tự do thông qua vẻ đẹp tự nhiên.
Khi xuất bản tuyển tập Seven Songs for the Harpsichord or Forte Piano năm 1788, nhạc sĩ sinh tại Pennsylvania viết rằng ông tin mình xứng đáng được ghi nhận là người bản xứ Hoa Kỳ đầu tiên tạo ra một sáng tác âm nhạc. Lâu nay, người ta cho rằng ông nhắc tới “My Days Have Been So Wondrous Free”.
Hopkinson đề tặng tuyển tập Seven Songs cho George Washington. Giống nhiều người thời Cách mạng Mỹ, ông ngưỡng mộ Washington. Ông cũng viết “A Toast to Washington” để tôn vinh vị tổng thống đầu tiên, ca ngợi vị thế, phẩm cách và cho rằng không ai trên thế giới sánh bằng về đức hạnh, danh tiếng.
Một đồng nghiệp khác của Washington lại dùng tài âm nhạc để thể hiện tình yêu, sự ngưỡng mộ không dành cho tổng thống, mà cho người phụ nữ góa chồng về sau trở thành vợ mình.
“Ông ấy chơi violin”
Năm 1770, Thomas Jefferson gặp Martha Wayles Skelton, một góa phụ trẻ ở Virginia yêu âm nhạc. Bà chơi bàn phím tài năng, thành thạo những dạng nhạc cụ thời kỳ đầu như harpsichord và pianoforte. Jefferson cũng là người chơi nhạc tận tâm, yêu thích violin.
Khi bắt đầu tìm hiểu nhau, họ nhanh chóng gắn bó vì chung tình yêu âm nhạc. Hai người say mê hòa tấu tại nhà Martha đến mức những người cầu hôn khác bỏ đi. Họ kết hôn năm 1772; âm nhạc trở thành một điểm tựa trong hôn nhân.
Vở nhạc kịch từng đoạt giải 1776 kể hành trình các nhà lập quốc ký Tuyên ngôn Độc lập. Thomas và Martha mới cưới cũng xuất hiện. Tiết mục “He Plays the Violin” thể hiện niềm đam mê violin của Jefferson và sức sống âm nhạc đem tới cuộc đời ông.
Theo Nhà hát Ford, ca khúc do nhân vật Martha hát khi tới Philadelphia tạo nên một chân dung Jefferson vui tươi, lãng mạn qua mắt bà. Violin vượt khỏi ý nghĩa nhạc cụ, thành biểu tượng cho một con người giàu biểu cảm, nhiệt thành và nhạy cảm với cái đẹp. Đây là cách thể hiện trong tác phẩm sân khấu.
Với Jefferson, âm nhạc không chỉ là sở thích thoáng qua mà còn là lĩnh vực nghiên cứu ảnh hưởng công việc cả đời. Nhà hát Ford nhận xét sự nhạy cảm với nhịp điệu, hòa âm và hình thức tương ứng với độ chính xác, cẩn trọng trong văn chương của ông, gồm việc soạn Tuyên ngôn Độc lập.
Âm thanh của tự do
Những nhà lập quốc khác cũng gặp nhau không chỉ trên con đường mưu cầu tự do mà còn qua âm nhạc. Patrick Henry, thống đốc Virginia nổi tiếng với lời tuyên bố chọn tự do hoặc cái chết, lớn lên cùng violin. Ông còn truyền cảm hứng cho Jefferson thời niên thiếu cầm nhạc cụ này. Hai người nhiều lần cùng biểu diễn tại các buổi gặp gỡ xã hội.
Suốt đời, Jefferson xem âm nhạc là một trong các lĩnh vực quan trọng cần học. Theo Nhà hát Ford, thư viện của ông, thuộc số lớn nhất tại Mỹ thời kỳ đầu, có bản nhạc bên cạnh sách triết học, pháp luật, thể hiện niềm tin rằng âm nhạc thiết yếu cho cuộc sống toàn diện. Album Jefferson’s Fiddle của Barry Phillips năm 2010 giới thiệu di sản thư viện âm nhạc phong phú ấy.
Nhìn từ lịch sử, âm thanh của tự do thường gợi bài diễn thuyết sôi nổi phản đối đánh thuế không có đại diện, hay tiếng súng trên chiến trường. Nhưng với những nhà lập quốc, nó cũng có thể là âm nhạc.
Từ tiếng glass armonica của Franklin tới thư viện mà Jefferson vun đắp, âm nhạc không chỉ tạo cảm hứng mà còn đem lại nguồn lực tinh thần giúp họ tiếp tục cuộc đấu tranh vì tự do, độc lập.
Ghi chú biên tập: Bài gốc đặt đoạn kể về phát minh armonica sau chuyến đi Pháp năm 1776, dễ gây nhầm rằng nhạc cụ ra đời sau chuyến đi đó. Bản dịch làm rõ trình tự theo Viện Franklin: nhạc cụ được Charles James chế tạo tại London theo chỉ dẫn của Franklin năm 1761.
Theo Rebecca Day, The Epoch Times, “Musical Talents of the Founding Fathers”, 8/10/2026. Đối chiếu niên đại: Viện Franklin, “Benjamin Franklin’s Glass Armonica”.
