Đại Kỷ Nguyên

“Quốc sĩ vô song”: Những thành ngữ gắn với cuộc đời Hàn Tín

Ảnh minh hoạ bát kê, thẻ tre và vỏ kiếm gợi các điển tích thời Hán.

Ảnh minh hoạ mang tính biểu trưng; không phải hiện vật hay cảnh lịch sử thực tế.

Ảnh minh hoạ bát kê, thẻ tre và vỏ kiếm gợi các điển tích thời Hán.
Ảnh minh hoạ mang tính biểu trưng; không phải hiện vật hay cảnh lịch sử thực tế.

Tác giả: Mặc Xuyên (Mo Chuan), Epoch Times.

Một hôm, Hán vương Lưu Bang nghe tin khiến ông gần như nổi giận: Tiêu Hà đã bỏ đi!

Khi ấy, Lưu Bang vừa bị Hạng Vũ đẩy tới Hán Trung, trong lòng vốn đầy bất bình. Tướng sĩ đi theo phần lớn là người Quan Đông, vào đường Thục thấy ngày càng xa quê nên nhiều người lén trốn. Vài chục tướng lĩnh bỏ đi, Lưu Bang còn chịu được, nhưng nay ngay cả thừa tướng Tiêu Hà cũng đi. Sử ký tả cảm giác ấy như mất cả tay trái lẫn tay phải.

Quốc sĩ vô song

Một hai ngày sau, Tiêu Hà trở về. Lưu Bang vừa mừng vừa giận, hỏi vì sao ông cũng bỏ trốn. Tiêu Hà đáp mình không trốn, mà đuổi theo một người bỏ đi: Hàn Tín.

Lưu Bang càng giận: hàng chục tướng bỏ đi chẳng thấy đuổi, Hàn Tín có gì mà phải đuổi theo? Tiêu Hà nói một câu lưu truyền hơn hai nghìn năm: các tướng khác dễ tìm, còn người như Hàn Tín thì thiên hạ không có người thứ hai. Đó là nguồn gốc thành ngữ “quốc sĩ vô song”.

Nhưng người được gọi là vô song ấy lúc đó chưa có chiến công hiển hách hay xuất thân quyền quý, thậm chí thường không kiếm nổi một bữa ăn.

Một bữa cơm, nghìn vàng báo đáp

Thời trẻ, Hàn Tín rất nghèo. Sử ký chép ông không được tiến cử làm quan, cũng không biết buôn bán mưu sinh nên thường tới nhà người khác ăn nhờ, lâu dần bị chán ghét.

Có thời gian ông thường ăn ở nhà đình trưởng Nam Xương. Ban đầu đình trưởng tiếp đãi, nhưng vợ ông không vui. Một ngày bà nấu cơm sớm, cả nhà ăn xong ngay trên giường. Khi Hàn Tín tới như thường lệ, không còn phần cơm cho ông. Hiểu ý, Hàn Tín giận và không trở lại.

Sau đó ông ra câu cá dưới thành. Bên sông có những bà lão giặt tơ, một người thấy ông đói nên cho cơm liền mấy chục ngày. Hàn Tín cảm động, hứa sẽ hậu tạ. Bà lại giận, nói bậc trượng phu không nuôi nổi mình, bà thương mới cho ăn, đâu phải mong báo đáp.

Khi giàu sang, Hàn Tín quả nhiên tìm lại bà và tặng nghìn vàng. Câu chuyện trở thành điển tích “nhất phạn thiên kim”.

Chịu nhục chui háng

Lúc ấy, Hàn Tín vẫn là chàng nghèo bị coi thường trên phố Hoài Âm, lại thích đeo kiếm. Một thanh niên cố ý chặn đường làm nhục, nói ông to lớn, ngày nào cũng mang đao kiếm nhưng thật ra nhát gan. Người này buộc ông chọn: không sợ chết thì rút kiếm giết hắn, còn sợ chết thì chui qua háng hắn.

Hàn Tín thực sự bò qua. Đó là nguồn gốc điển tích “khố hạ chi nhục”.

Tiêu Hà đuổi Hàn Tín dưới trăng

Cuối đời Tần, thiên hạ đại loạn, Hàn Tín mang kiếm theo Hạng Lương, rồi Hạng Vũ. Ông nhiều lần hiến kế nhưng không được dùng, chỉ giữ chức lang trung, không được trọng dụng. Khi Lưu Bang vào Thục, Hàn Tín rời quân Sở, theo Hán vương.

Tới đây ông cũng chưa được phát hiện ngay, thậm chí suýt bị giết, cho tới khi gặp Tiêu Hà. Sử ký chép Hàn Tín nhiều lần trò chuyện với Tiêu Hà, khiến Tiêu Hà coi ông là kỳ tài. Nhưng dù được tiến cử nhiều lần, Hàn Tín vẫn chưa được Lưu Bang trọng dụng.

Sau khi Hán quân tới Nam Trịnh, tướng sĩ trốn đi nhiều, Hàn Tín không chờ được nữa cũng bỏ đi. Tiêu Hà nghe tin liền đuổi theo, không kịp báo trước với Lưu Bang. Đó là câu chuyện “Tiêu Hà nguyệt hạ truy Hàn Tín” được hậu thế kể lại đầy màu sắc truyền kỳ.

Lên đàn bái tướng

Tiêu Hà nói nếu Lưu Bang chỉ muốn giữ Hán Trung thì không cần Hàn Tín, nhưng muốn tranh thiên hạ thì nhất định phải dùng. Lưu Bang đồng ý cho Hàn Tín làm tướng; Tiêu Hà vẫn cho là chưa đủ. Cuối cùng Hán vương chấp nhận phong đại tướng.

Tiêu Hà còn khuyên không thể gọi Hàn Tín tới như tướng thường mà phải trai giới, chọn ngày, lập đàn, làm lễ bái tướng. Lưu Bang miễn cưỡng nhận lời.

Đến ngày ấy, các tướng đều nghĩ chức đại tướng có thể về mình. Người lên đàn nhận phong lại là Hàn Tín: người từng đói cơm, chịu nhục chui háng, không được dùng ở quân Hạng Vũ và suýt bị giết sau khi theo Hán. Từ đó có thành ngữ “đăng đàn bái tướng”.

Dũng khí của kẻ thất phu

Sau lễ, Lưu Bang hỏi kế tranh thiên hạ. Hàn Tín hỏi Hán vương tự thấy mình mạnh mẽ, dũng cảm so với Hạng Vũ ra sao. Lưu Bang im lặng hồi lâu rồi thừa nhận không bằng.

Hàn Tín phân tích Hạng Vũ dù quát một tiếng khiến hàng trăm hàng nghìn người khiếp sợ nhưng không biết dùng tướng tài, đó chỉ là “thất phu chi dũng”. Ông ta thấy thuộc hạ ốm thì rơi lệ, chia cơm cho họ; tới khi họ lập công đáng phong tước lại giữ ấn tới mòn cả góc vẫn tiếc không trao. Hàn Tín gọi đó là “phụ nhân chi nhân”.

Tiếp đó, Hàn Tín phân tích lòng người Quan Trung và thế Tam Tần, khẳng định Hán quân đi về đông có thể dùng hịch truyền mà bình định. “Truyền hịch nhi định” về sau chỉ việc uy danh tới đâu khiến đối phương quy phục mà không cần đại chiến. Lưu Bang nghe xong rất mừng, Hàn Tín có cơ hội thi triển tài năng.

Minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương

Không lâu sau, Hán quân tiến về đông. Sử ký chép Lưu Bang dùng kế Hàn Tín, trở lại theo đường cũ, đánh Ung vương Chương Hàm tại Trần Thương. Hậu thế diễn thành câu “minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương”: ngoài mặt sửa đường sạn đạo, bên trong bí mật vượt Trần Thương.

Sau đó Hàn Tín phá Ngụy, đánh Triệu. Năm 204 trước Công nguyên, tại Tỉnh Hình, ông đối diện đại quân Triệu mà cho một vạn quân Hán quay lưng ra sông bày trận. Quân Triệu cười, cho rằng ông không hiểu binh pháp. Nhưng Hàn Tín đã sai hai nghìn kỵ binh nhẹ mai phục.

Khi quân Triệu dốc lực ra khỏi trại đánh quân Hán, kỵ binh nhân lúc trống vắng xông vào, nhổ cờ Triệu, dựng cờ đỏ Hán. Đó là điển tích “bạt xí dịch xí”, nhổ cờ đổi cờ.

Quân Hán trước mặt có địch, sau lưng là sông, không đường lùi nên liều chết chiến đấu. Quân Triệu đánh mãi không được, lui về trại lại thấy toàn cờ Hán nên rối loạn. Hàn Tín đánh hai mặt, đại phá quân Triệu. Trận ấy được gọi là “bối thủy nhất chiến”.

Sau trận, các tướng hỏi vì sao ông làm trái binh pháp. Hàn Tín đáp đặt vào chỗ chết rồi mới sống, đặt vào chỗ mất rồi mới còn. Câu “trí chi tử địa nhi hậu sinh” gắn chặt với trận Tỉnh Hình.

Trong cuộc tranh hùng Sở–Hán, Trương Lương từng nói trong các tướng của Hán vương, chỉ Hàn Tín có thể giao việc lớn, đảm đương một mặt. Thành ngữ “độc đương nhất diện” hình thành về sau có Hàn Tín là một trong những hình mẫu sớm.

Càng nhiều càng tốt

Hàn Tín tiếp tục phá Ngụy, diệt Triệu, hàng Yên, định Tề, cuối cùng cùng các tướng Hán vây Hạng Vũ tại Cai Hạ, kết thúc Sở và dựng Hán.

Khi thiên hạ yên, có lần Lưu Bang cùng Hàn Tín bàn khả năng cầm quân của các tướng. Hỏi mình chỉ huy được bao nhiêu, Lưu Bang nghe đáp không quá mười vạn. Hỏi Hàn Tín thì sao, ông trả lời càng nhiều càng tốt: “đa đa ích thiện”.

Lưu Bang cười hỏi đã cầm quân càng nhiều càng tốt, sao vẫn bị mình khống chế. Hàn Tín đáp hoàng đế không giỏi cầm quân nhưng giỏi chỉ huy các tướng. Từ đó câu “đa đa ích thiện” lưu truyền tới nay.

Hàn Tín cũng nhắc ân tri ngộ của Lưu Bang: trao ấn thượng tướng quân, giao hàng vạn binh, cởi áo cho ông mặc, nhường đồ ăn cho ông dùng. “Giải y thôi thực” về sau chỉ sự quan tâm, hậu đãi đặc biệt. Nhưng khi công lao càng lớn, quan hệ giữa Hàn Tín và Lưu Bang cũng đổi khác.

Thành cũng Tiêu Hà, bại cũng Tiêu Hà

Sau khi Hạng Vũ mất, Hàn Tín ban đầu chuyển làm Sở vương, rồi bị giáng xuống Hoài Âm hầu. Ông từng than thỏ khôn chết thì chó tốt bị nấu, chim cao hết thì cung tốt bị cất, nước địch phá thì mưu thần mất; thiên hạ đã định, mình hẳn cũng sẽ bị nấu.

Các thành ngữ “thố tử cẩu phanh” và “điểu tận cung tàng” không do Hàn Tín sáng tạo đầu tiên, nhưng trải nghiệm nửa đời sau khiến chúng gắn với số phận ông.

Kết cục đưa câu chuyện trở về Tiêu Hà. Sau khi Trần Hy phản loạn, Hàn Tín bị liên lụy. Lã hậu muốn trừ ông nhưng sợ ông không vào cung nên bàn với Tiêu Hà. Chính Tiêu Hà cuối cùng lập kế đưa Hàn Tín vào cung Trường Lạc, nơi ông bị giết.

Hậu thế vì vậy có câu “thành cũng Tiêu Hà, bại cũng Tiêu Hà”. Ban đầu Tiêu Hà đuổi theo đưa Hàn Tín trở lại, đưa lên đàn bái tướng; cuối cùng cũng Tiêu Hà dẫn ông tới cung Trường Lạc, nơi ông không còn bước ra.

Một đời nối bằng những thành ngữ

Từ người áo vải Hoài Âm tới đại tướng Hán quân, rồi chết ở Trường Lạc, cuộc đời Hàn Tín dường như nối lại bằng chuỗi thành ngữ.

Thời trẻ có chịu nhục chui háng và một bữa nghìn vàng. Tiêu Hà nhận ra tài năng để lại quốc sĩ vô song, đuổi Hàn Tín dưới trăng và lên đàn bái tướng. Sau khi được phong, ông bàn dũng khí thất phu, lòng nhân mềm yếu và truyền hịch bình định. Chinh chiến để lại ám độ Trần Thương, bối thủy nhất chiến, nhổ cờ đổi cờ, đặt vào chỗ chết rồi mới sống và độc đương nhất diện. Khi công thành là đa đa ích thiện, giải y thôi thực, điểu tận cung tàng, thố tử cẩu phanh, cuối cùng thành cũng Tiêu Hà, bại cũng Tiêu Hà.

Nguồn: Epoch Times.

Exit mobile version