Đại Kỷ Nguyên

Những hình dung về mùa và hành trình mặt trời trong Hoài Nam Tử

Ảnh minh hoạ nghệ thuật thẻ tre không chữ, lá thu phủ sương và núi giả định, gợi cách nhìn mùa tiết trong cổ thư.

Ảnh minh hoạ

Ảnh minh hoạ nghệ thuật thẻ tre không chữ, lá thu phủ sương và núi giả định, gợi cách nhìn mùa tiết trong cổ thư.
Ảnh minh hoạ

Tác giả: Tần Sơn (秦山), biên soạn / SecretChina. Bản dịch từ bài nguồn.

Hoài Nam Tử là tác phẩm do Hoài Nam vương Lưu An, một thành viên hoàng tộc Tây Hán, cùng các môn khách tập hợp sử liệu và văn hiến để biên soạn. Sách còn có tên Hoài Nam Hồng Liệt và Lưu An Tử. Lương Khải Siêu từng đánh giá Hoài Nam Hồng Liệt là kho tàng tư tưởng Đạo gia thời Tây Hán, có nội dung rộng lớn nhưng mạch lạc, thuộc hàng đầu trong trước tác đời Hán.

Được nhiều người cùng viết, Hoài Nam Tử có nội dung phong phú, dung hợp tư tưởng của các học phái Tiên Tần. Trong thế kỷ XX, tác phẩm có bản dịch toàn văn tiếng Anh, tiếng Nhật và các bản dịch tuyển sang tiếng Pháp, tiếng Đức. Bài viết của SecretChina giới thiệu một phần thiên Thiên văn. Các mô tả sau đây thuộc thế giới quan và thần thoại trong cổ thư, không phải giải thích thiên văn học hiện đại.

Đoạn cổ văn nói vào tháng ba, cuối mùa xuân, Phong Long xuất hiện để mang mưa; đến tháng ba của mùa thu (tháng chín âm lịch), khí đất không còn tản ra, thiên nhiên thu liễm, côn trùng ẩn mình, đóng cửa ở yên, rồi Thanh Nữ xuất hiện mang theo sương tuyết. Theo chú giải, Phong Long thường chỉ thần sấm hoặc vị thần cai quản sấm chớp; Thanh Nữ là nữ thần cai quản sương tuyết trong thần thoại Trung Hoa.

Phần diễn giải tiếp theo kể rằng khí vận hành qua mười hai thời lệnh; đến hạ tuần tháng hai giữa mùa xuân năm sau mới kết thúc việc cất giữ dương khí và bế tắc âm hàn. Nữ Di bước ra ca múa, trông coi khí ôn hòa của tự nhiên, giúp ngũ cốc, chim muông, cây cỏ sinh trưởng. Vào tháng tư đầu hạ, dương khí ấm làm ngũ cốc chín, chim cưu trống liên tục kêu báo tiết hậu cho Thiên đế.

Theo quan niệm được trình bày trong sách, trời không thả khí âm lạnh thì vạn vật không sinh, đất không tỏa khí dương nóng thì vạn vật không trưởng thành. Trời tròn đất vuông, Đạo ở chính giữa; mặt trời gắn với đức nuôi dưỡng, mặt trăng gắn với sự tiêu sát. Khi sự tiêu sát của mặt trăng đến thì vạn vật chết, khi đức nuôi dưỡng của mặt trời đến thì vạn vật sống — đó là cách cổ thư diễn đạt quan niệm âm dương. Khi mặt trời xa núi, khí núi ẩn tàng; xa nước, cá ẩn mình; xa cây, lá héo. Bởi vậy, sách nói nếu mặt trời không xuất hiện liên tục năm ngày thì đã không làm tròn chức phận, đến bậc thánh nhân cũng không vui.

Cổ thư hình dung mặt trời ra từ Dương Cốc, tắm ở Hàm Trì rồi lướt qua cây Phù Tang; lúc ấy gọi là thần minh. Khi lên tới ngọn Phù Tang và bắt đầu hành trình thì gọi là lê minh. Tới núi Khúc A là đán minh; tới vùng nước Tằng Tuyền là lúc dùng bữa sáng, còn tới Tang Dã là lúc ăn trưa. Khi lên đỉnh núi Hành Dương thì gần giữa trưa; tới Côn Ngô là lúc mặt trời đứng bóng.

Tới Điểu Thứ, mặt trời đã hơi ngả về tây; tới Bi Cốc là bữa chiều. Qua Nữ Kỷ ở phía tây bắc, mặt trời càng lệch tây; tới Uyên Ngu là lúc giã gạo buổi chiều, còn tới núi Liên Thạch thì sắp khuất. Khi tới Bi Tuyền, hành trình trong ngày gần xong, người đánh xe tháo xe cho ngựa nghỉ. Tới Ngu Uyên là hoàng hôn, tới Mông Cốc trời đã tối và qua giờ định hôn. Mặt trời nghỉ bên nước Ngu Uyên, ánh chiều còn chiếu bờ Mông Cốc.

Tác phẩm kể mỗi ngày mặt trời đi qua chín châu, bảy xá, với quãng đường được nguồn ghi nguyên văn là “五億萬七千三百零九里” (ngũ ức vạn thất thiên tam bách linh cửu lý), một cách mô tả cổ được giữ nguyên thay vì quy đổi thành số đo thiên văn hiện đại, chia thành bốn giai đoạn sáng, ngày, chiều và đêm. Vào hạ chí, dương khí hạ xuống, âm khí lên cao nên vạn vật hướng tới tàn lụi; vào đông chí, âm khí hạ xuống, dương khí lên nên vạn vật hướng tới sinh trưởng. Ban ngày thuộc dương, ban đêm thuộc âm: khi dương làm chủ thì ngày dài đêm ngắn, khi âm làm chủ thì ngày ngắn đêm dài.

Nguồn: SecretChina.

Exit mobile version