
Một chương trong thiên Thuật nhi gợi mở cách hiểu về lễ bái sư và tinh thần dạy học của Khổng Tử.
Tác giả: Tiết Trì (薛馳). Dịch đầy đủ phần nội dung chính bài “《論語》說(146):孔子怎麼收學生見面禮?” trên Đại Kỷ Nguyên, ngày 5/11/2026. Đây là bài diễn giải kinh điển; những cách đọc khác nhau được giữ theo tác giả.
Khổng Tử nói: “Từ người mang lễ thúc tu trở lên, ta chưa từng không dạy bảo”. (Luận Ngữ, thiên Thuật nhi thứ bảy.)
Chú thích
Tự: Là giới từ; ở đây không mang nghĩa “tự mình”, càng không có nghĩa “chủ động”, theo Dương Phùng Bân.
Thúc tu: “Tu” là thịt khô, còn gọi là “phủ”. Mỗi dải thịt khô gọi là một “đĩnh”, mười dải thành một bó. “Thúc tu” là mười dải thịt khô, thời xưa dùng làm lễ vật khi gặp lần đầu. Đây là lễ vật đơn sơ; lễ hậu hơn có thể là ngọc và lụa, theo Dương Bá Tuấn. Cách giải “thúc tu” là chỉnh tề đai áo, sửa sang dáng vẻ, hoặc là từ 15 tuổi trở lên, đều là nghĩa xuất hiện về sau, theo Mao Tử Thủy.
Bàn luận
Khổng Tử được tôn là “vạn thế sư biểu”, người thầy mẫu mực của muôn đời. Một công lao lớn của ông là mở trường tư, thực hành “hữu giáo vô loại”, để người bình thường và người nghèo cũng có thể học. Trước Khổng Tử, việc học tập trung ở quan phủ; thứ dân như nông dân, thợ thủ công khó có cơ hội tiếp xúc với sách và chữ.
Khi ấy giấy chưa được phát minh, chữ chủ yếu được khắc trên đồ đồng hoặc viết trên thẻ tre, thẻ gỗ; chi phí chế tác và ghi chép rất cao, gia đình bình dân khó kham nổi. Hơn nữa, chữ thời bấy giờ như đại triện, cổ văn có kết cấu phức tạp, chưa thống nhất, thiếu công cụ hỗ trợ như phiên âm nên việc học có rào cản lớn. Nhưng khi Khổng Tử xuất hiện, tình hình thay đổi. Theo truyền thống, ông có ba nghìn môn đệ; tác giả xem ba nghìn người này là lớp trí thức đầu tiên từ dân gian xuất hiện trong lịch sử Trung Quốc, thuộc tầng lớp “sĩ”.
Trong học trò của Khổng Tử có con em quý tộc. Chẳng hạn, đại phu nước Lỗ là Mạnh Hy Tử, vì hổ thẹn chuyện mình thất lễ, trước lúc mất đã dặn người nối nghiệp là Mạnh Ý Tử: “Lễ là cốt cán của con người. Không có lễ thì không thể đứng vững. Ta nghe nói sắp có người thông đạt tên Khổng Khâu, là hậu duệ thánh nhân… Nếu ta qua đời, nhất định phải tôn người ấy làm thầy”. Vì thế Mạnh Ý Tử và Nam Cung Kính Thúc theo học Trọng Ni. Câu chuyện được ghi ở Tả truyện, năm Lỗ Chiêu Công thứ bảy.
Nhưng nhiều hơn là những học trò bình dân, nghèo khó. Chẳng hạn, môn đệ xuất sắc Nhan Hồi “một giỏ cơm, một bầu nước, ở ngõ hẹp; người khác không chịu nổi cảnh buồn ấy, Hồi vẫn không đổi niềm vui”. Còn có Nguyên Hiến, thể hiện rõ sự thanh bần và khí tiết; Tử Lộ, tức Trọng Do, hái rau dại nuôi cha mẹ; Mẫn Tổn, tức Mẫn Tử Khiên, nhân vật trong chuyện “Đòn roi bông lau” của Nhị thập tứ hiếu.
Học trò nghèo đến bái Khổng Tử làm thầy có phải dâng lễ ra mắt không? Theo cách giải của bài viết, có. Ông không nhằm kiếm tiền, mà coi trọng “lễ” và sự tôn nghiêm của đạo làm thầy. Lễ cần bao nhiêu? Đó chính là điều chương này nói: chỉ cần chuẩn bị lễ mọn từ mười dải thịt khô trở lên, ông chưa từng không dạy bảo. Cần chú ý đây là lễ ra mắt, không phải học phí; tác giả cho rằng với học trò nghèo, có lẽ Khổng Tử hoàn toàn không thu học phí.
Tuy nhiên, cũng có người giải “thúc tu” trong chương này là thắt đai, sửa sang y phục. Theo cách đọc ấy, “tự hành thúc tu” là yêu cầu cơ bản nhất về khả năng tự chăm sóc cuộc sống của thanh thiếu niên; hễ ai có khả năng ấy, Khổng Tử đều không từ chối.
Với người hiện đại, Luận Ngữ đã lưu truyền hơn hai nghìn năm, hình thành nhiều cách diễn giải, qua đó có thể quan sát sự biến đổi của văn hóa. Còn cách hiểu ý nghĩa ban đầu của kinh điển thì mỗi người có thể có kiến giải riêng.
Tài liệu tham khảo chính của bài nguồn
Luận Ngữ chú sớ (thuộc Thập tam kinh chú sớ, Lý Học Cần chủ biên, NXB Đại học Bắc Kinh); Luận Ngữ tập chú của Chu Hy (trong Tứ thư chương cú tập chú); Tứ thư trực giải của Trương Cư Chính (NXB Cửu Châu); Luận Ngữ chính nghĩa của Lưu Bảo Nam; Luận Ngữ thuyết của Trình Đình Tộ; Luận Ngữ tân giải của Tiền Mục (Tam Liên); Luận Ngữ dịch chú của Dương Bá Tuấn (Trung Hoa thư cục); Luận Ngữ kim chú kim dịch của Mao Tử Thủy (NXB Hữu Nghị Trung Quốc); Luận Ngữ tam bách giảng của Phó Bội Vinh (NXB Liên Hợp Bắc Kinh); Luận Ngữ dịch chú của Kim Lương Niên (NXB Cổ Tịch Thượng Hải); Luận Ngữ bản giải, bản tu chỉnh, của Tôn Khâm Thiện (Tam Liên); Luận Ngữ kim độc của Lý Trạch Hậu (Trung Hoa thư cục, 2015); Thiên hạ quy nhân — Vương Mông thuyết Luận Ngữ; Luận Ngữ giảng yếu của Lý Bỉnh Nam (NXB Văn Nghệ Trường Giang); Đương tài tử ngộ thượng Luận Ngữ, từ Tứ thư ngộ của Trương Đại, Phùng Ninh Ninh dịch (Trung Hoa thư cục, 2020); Luận Ngữ ngộ giải khám chính, Cao Thượng Cử chủ biên (NXB Khoa Học Xã Hội Văn Hiến, Bắc Kinh, 2016); Luận Ngữ tân chú tân dịch của Dương Phùng Bân (NXB Đại học Bắc Kinh, 2016); Luận Ngữ nghiên độc của Tưởng Thiệu Ngu (NXB Trung Tây Thư Cục, Thượng Hải, 2018).
Nguồn: Đại Kỷ Nguyên.
