Đại Kỷ Nguyên

Arthur Battelle Whiting: Người đưa âm nhạc thính phòng vào giảng đường

Ảnh minh hoạ đàn harpsichord trong phòng biểu diễn thính phòng giả định đầu thế kỷ XX; không phải ảnh một buổi diễn của Arthur Whiting.

Ảnh minh hoạ

Ảnh minh hoạ đàn harpsichord trong phòng biểu diễn thính phòng giả định đầu thế kỷ XX; không phải ảnh một buổi diễn của Arthur Whiting.
Ảnh minh hoạ

Nhạc sĩ Arthur Battelle Whiting dành đời mình cho sáng tác, biểu diễn và giúp các thế hệ sinh viên hiểu sâu hơn âm nhạc cổ điển.

Tác giả: Tiffany Brannan. Dịch đầy đủ phần nội dung chính từ The Epoch Times, bài ngày 3/11/2026. Bài thuộc loạt “The Brilliant Boston Six”.

Sáu nhạc sĩ và nhà soạn nhạc thuộc Trường phái New England thứ hai đã góp phần định hình âm nhạc cổ điển Mỹ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Nhóm được gọi là Boston Six này cổ vũ một nền âm nhạc cổ điển do người Mỹ xây dựng, gồm John Knowles Paine, Arthur Foote, George Whitefield Chadwick, Edward MacDowell, Horatio Parker và Amy Beach.

Một số nhạc sĩ cùng thời được xem là thành viên danh dự của nhóm, trong đó có George Whiting và người cháu Arthur Battelle Whiting (1861–1936).

Người cháu và người học trò

Arthur Battelle Whiting sinh ngày 20/6/1861 tại Cambridge, Massachusetts, trong một gia đình có nhiều thế hệ làm âm nhạc. Bà nội ông là ca sĩ; cha ông, Charles Edward Whiting, dạy âm nhạc ở trường công và sáng tác.

Mẹ ông, Emma Reeves Leland Whiting, cũng là nhạc sĩ và là người thầy đầu tiên, dạy ông piano khi lên tám. Một số người chú, bác cũng theo nghề nhạc. Người chú George, một nghệ sĩ organ và nhà soạn nhạc, dạy ông chơi organ. Arthur lần đầu biểu diễn piano trước công chúng năm 13 tuổi tại một buổi hòa nhạc ở Worcester, Massachusetts.

Khi Whiting trưởng thành, các trường nhạc có chất lượng đang được thành lập ở New England, phần lớn nhờ công sức của Boston Six. Ông quyết định theo đuổi âm nhạc nghiêm túc tại Nhạc viện New England. Ở đó, ông học piano với William Hall Sherwood, hòa âm với J.C.D. Parker và sáng tác với George Whitefield Chadwick — một thành viên Boston Six từng học với chú George của ông.

Sau khi tốt nghiệp, Whiting muốn bổ sung việc học tại Mỹ bằng thời gian tu nghiệp ở Đức. Dù các chương trình âm nhạc trong nước đã nhiều hơn trước, người đương thời vẫn thường cho rằng muốn học nhạc chuyên sâu phải đến châu Âu, đặc biệt là Đức. Năm 1883, ông tới Munich, học sáng tác với Josef Gabriel Rheinberger tại Nhạc viện Munich.

Tại đây, Whiting tham gia một nhóm nhạc người Mỹ do Rheinberger tổ chức, trước đó từng có Chadwick. Rheinberger ảnh hưởng đến thị hiếu của ông đối với các bậc thầy âm nhạc Đức, định hình cả phong cách sáng tác lẫn phương pháp giảng dạy sau này.

Whiting cũng học chỉ huy với Ludwig Abel. Trong thời gian ở Munich, ông biểu diễn với tư cách nghệ sĩ piano hòa nhạc và phát triển năng lực sáng tác còn đang chớm nở.

Trở lại nước Mỹ

Năm 1885, Whiting trở về Boston và sống ở đó suốt một thập niên tiếp theo. Năm 1889, ông kết hôn với Grace Kneeland Gorham, thuộc một gia đình nổi bật ở New England. Trong thời gian ở Boston, ông tập trung sáng tác.

Năm 1895, hai vợ chồng chuyển tới thành phố New York. Bên cạnh sáng tác, ông biểu diễn piano thường xuyên hơn, dạy học tư và viết bài. Ông thường biểu diễn cùng các nhóm thính phòng, chẳng hạn Tứ tấu dây Kneisel.

Năm 1907, Whiting bắt đầu công việc trở thành di sản lớn nhất của mình: chuỗi “University Concerts”. Mỗi năm, ông thực hiện năm buổi biểu diễn kết hợp thuyết giảng về âm nhạc thính phòng tại các đại học lớn ở miền Đông có chương trình âm nhạc: Yale, Harvard, Princeton và Columbia. Ông duy trì những buổi hòa nhạc giáo dục này đến năm 1930. Một số trường đã trao bằng danh dự cho ông vì những đóng góp ấy.

Whiting là người tiên phong trong phong trào tìm lại âm nhạc cổ điển thời kỳ đầu, cổ vũ cách biểu diễn dựa trên hiểu biết lịch sử. Ông sớm ủng hộ việc dùng clavichord và harpsichord cho nhạc bàn phím cổ, thay vì mặc nhiên chuyển mọi tác phẩm sang piano.

Từ năm 1911, ông thực hiện một số buổi độc tấu harpsichord. Ông cũng viết hai tập “Pianoforte Pedal Studies” về cách sử dụng bàn đạp piano; tập hai khảo sát việc dùng bàn đạp để tạo màu sắc âm nhạc.

Theo những ghi chép về ông, Whiting là người tài giỏi nhưng luôn bị giằng co giữa hai mặt trong tính cách: một bên rất sáng tạo, một bên nghiêm ngặt tuân theo quy tắc. Cảm giác mình thua kém các bậc thầy cũng khiến ông sáng tác ít hơn mong muốn, hoặc ít hơn khả năng của mình. Gần cuối đời, ông buồn bã nói đùa với một người bạn rằng bia mộ của mình nên ghi: “Nơi đây yên nghỉ một người đã sáng tác chưa đủ”.

Sáng tác và gìn giữ di sản

Dẫu vậy, Whiting vẫn sáng tác, với những tác phẩm phản ánh phong cách tân cổ điển. Concerto piano cung Rê thứ và Fantasia cho piano cùng dàn nhạc của ông đều từng được nhiều dàn nhạc Mỹ trình diễn.

Một trong những thành công đầu tiên là tác phẩm hợp xướng phổ chùm thơ “Floriana” của Oliver Herford, công diễn lần đầu tại New York năm 1902. Ông còn viết nhiều tác phẩm cho nhóm thính phòng nhỏ, trong đó có tam tấu piano, tổ khúc cho dàn dây và tứ tấu kèn horn.

Là nghệ sĩ bàn phím xuất sắc, Whiting viết nhiều tác phẩm cho piano và organ. Ông sáng tác nhạc tôn giáo theo hình thức thánh ca truyền thống đương thời. Với thanh nhạc, ông viết các ca khúc tôn giáo và thế tục cho giọng đơn cùng piano, phổ thơ cho hợp xướng hỗn hợp, đồng thời viết motet và các bài ca hợp xướng tôn giáo.

Trong suốt cuộc đời, ông còn sáng tác những tác phẩm quy mô lớn cho dàn nhạc, trở thành phần quan trọng nhất trong gia tài của mình. Trong đó có Concert Overture năm 1885, từ giai đoạn đầu sự nghiệp, và “The Golden Cage”, một tác phẩm trình diễn vũ đạo dựa trên thơ William Blake trong tập “Songs of Innocence”.

Whiting qua đời năm 1936, ở tuổi 75, khi đã góa vợ và không có con. Khi ấy, âm nhạc của ông đã dần phai khỏi ký ức công chúng.

Ông dành đời mình nghiên cứu, quảng bá và bảo tồn tác phẩm của các nhà soạn nhạc cổ điển lớn, đặc biệt trân trọng Johann Sebastian Bach, George Frideric Handel và Johannes Brahms. Ông xuất bản những bản chuyển soạn của mình từ tác phẩm của họ, biểu diễn sát với lịch sử nhất có thể, đồng thời giúp các thế hệ nhạc sĩ mới hiểu được tài năng của những bậc thầy thông qua việc dạy học.

Theo tác giả Tiffany Brannan, những đóng góp ấy xứng đáng đưa Whiting vào ký ức về những tên tuổi âm nhạc lớn của Mỹ.

Nguồn: The Epoch Times.

Exit mobile version