
Trong cách đọc của triết gia Roger Scruton, những vở opera cuối đời của Richard Wagner chạm đến một nhu cầu bền bỉ của con người: tìm kiếm điều thiêng liêng, ngay cả khi niềm tin tôn giáo truyền thống đã phai nhạt.
Phân tích – Bình luận. Tác giả: James Bryson, The Epoch Times, ngày 10/10/2026. Bài viết trình bày cách diễn giải triết học và nghệ thuật của tác giả, không phải một bản tin sự kiện.
Còn hy vọng nào cho một thế giới đang đánh mất tôn giáo?
Câu hỏi ấy nằm ở trung tâm tư tưởng và trước tác của cố triết gia Sir Roger Scruton. Cuối đời, ông hướng sự chú ý tới những vấn đề tôn giáo, đồng thời cố gắng lý giải mối quan tâm suốt đời dành cho thế giới kịch nghệ của Richard Wagner (1813–1883). Hai mối quan tâm ấy không tình cờ đi cùng nhau.
Scruton cho rằng Wagner đem đến sự an ủi cho con người hiện đại: những người không còn tin vào các xác tín giáo lý của tôn giáo xưa, nhưng cũng không thể gạt bỏ nhu cầu tôn giáo của mình. Hóa ra nhu cầu ấy không mất đi cùng sự sụp đổ của hình ảnh Thượng Đế trong niềm tin của họ.
Chúng ta từng là và vẫn là những sinh thể hướng về thần linh, bất kể ta tin các vị thần là ai, có tồn tại hay không, hoặc mang bản chất gì. Theo cách kể của Scruton, những vở opera cuối đời Wagner xoay quanh sự thật không thể né tránh ấy về bản tính con người.
Sự hiến tế trong truyền thống Hy Lạp và Kitô giáo
Tham vọng nghệ thuật của Wagner gợi lại thời Hy Lạp cổ đại, khi chưa có ranh giới rạch ròi giữa sân khấu và bàn thờ. Cả hai đều là nơi diễn ra những nghi lễ hiến tế vì sự an lành của cộng đồng.
Wagner cũng muốn vượt qua người Hy Lạp, như Kitô giáo từng làm, bằng cách cho thấy sự hy sinh mang sức cứu chuộc không nhờ một nạn nhân có tội bị thần linh trừng phạt hay giải cứu, mà nhờ sự vô tội của người tử đạo. Người ấy đứng tách khỏi những kẻ hành hạ mình, đem lại cho họ sự cứu chuộc thông qua tha thứ.
Đức Kitô không cần được thương xót và tha thứ như Orestes hay Oedipus. Sự đảo chiều của Kitô giáo đối với cách hiểu và mục đích hiến tế của Hy Lạp đem đến một trải nghiệm mới về tính thiêng liêng của nạn nhân: cái chết trong sự vô tội trở thành nguồn cứu chuộc cho cộng đồng.
Wagner chủ ý đặt mình vào lĩnh vực vốn thường dành cho tôn giáo. Theo Scruton, mục tiêu của ông không gì khác hơn sự cứu chuộc nhân loại, như người Hy Lạp và Kitô hữu trước đó. Giống người Hy Lạp, Wagner muốn khán giả thông qua kịch cảm nhận sự thật và ý nghĩa hiện sinh của bản tính tôn giáo; ông muốn cho thấy sức cứu chuộc của nạn nhân vô tội, như khuôn mẫu Kitô giáo đã thể hiện.
Những người hùng của tình yêu
Wagner kết hợp di sản Hy Lạp và Kitô giáo bằng việc khám phá bản chất tình yêu. Những opera cuối đời tập trung vào hai kiểu “người hùng của tình yêu”: người hùng của agape, tình yêu vị tha, và người hùng của eros, tình yêu đôi lứa đầy đam mê. Parsifal và Hans Sachs thuộc kiểu thứ nhất, Tristan và Isolde thuộc kiểu thứ hai. Trong phạm vi bài viết, tôi chỉ bàn cách Scruton diễn giải những người hùng của eros trong Tristan und Isolde.
Theo Scruton, eros có vị trí nổi bật trong thế giới kịch nghệ của nhà soạn nhạc. Điều xác định người hùng của tình yêu agape chính là việc họ từ bỏ eros để chọn tình yêu vị tha, một lựa chọn vì lợi ích chung của cộng đồng.
Bản tính tôn giáo của chúng ta trước hết được hiểu rõ hơn qua eros, bởi đó là con đường phổ quát hơn. Với những người hùng agape, nó là một con đường họ đã không chọn.
Scruton giải thích rằng bí ẩn của tình yêu lãng mạn mà Wagner kịch hóa trong Tristan vừa tiếp thu vừa rời xa các nguồn Hy Lạp và Kitô giáo trong nhãn quan đạo đức của ông. Opera tạo được “hào quang thiêng liêng” của sân khấu Hy Lạp, nối những đam mê riêng tư với vận mệnh thành bang; đồng thời Wagner chấp nhận sự đảo chiều của Kitô giáo, rằng hành vi hy sinh chỉ đạt được sức cứu chuộc qua sự vô tội của nạn nhân.
Tuy nhiên, Wagner vẫn gần sân khấu Hy Lạp hơn nghi thức Kitô giáo tái hiện sự hy sinh của Thiên Chúa vì con người. Tristan không vượt qua nỗi đau của cái chết như Kitô giáo: nếu việc cử hành Thánh Thể đem lại sự cứu chuộc khỏi cái chết, thì Wagner cho thấy tình yêu đôi lứa đem lại sự cứu chuộc trong cái chết.
Tình yêu là quan hệ giữa những sinh thể hữu hạn
Sự biến đổi logic của bí tích Kitô giáo cũng khiến Wagner rời khỏi mục đích cứu chuộc cộng đồng của nghi lễ Hy Lạp. Trong Tristan, cộng đồng chỉ xuất hiện như sự can thiệp hoặc rào cản đối với cuộc gặp gỡ và hòa hợp cuối cùng của đôi tình nhân.
Đến đoạn Liebestod ở hồi thứ ba, cũng là hồi cuối, cộng đồng phải lùi vào hậu cảnh, khi đôi tình nhân cuối cùng hợp nhất và biến đổi qua cái chết.
Cộng đồng không được hay mất gì từ cái chết của hai nạn nhân này. Về phần mình, họ không muốn gì ở thế giới và cũng không thể trao cho nó điều gì. Vậy sự cứu chuộc nằm ở đâu, nếu không phải đời sống sau cái chết hay lợi ích lớn hơn cho người ở lại?
Scruton giải thích rằng câu trả lời theo nghĩa đen là vấn đề góc nhìn. Hiểu biết sâu sắc và thành tựu lớn của Wagner trong Tristan nằm ở việc gần như hoàn toàn nhìn hành vi hy sinh từ phía nạn nhân, thể hiện chiều sâu, bề rộng đời sống nội tâm của người yêu say đắm theo cách hiếm nghệ sĩ nào làm được.
Trải nghiệm ấy không được mô tả bằng lời hay chứng minh bằng lập luận, mà được thể hiện qua sự hòa quyện của thi ca và, cuối cùng, chính âm nhạc. Khán giả được nhìn và cảm thế giới từ bên trong, theo góc nhìn của người tình đồng thời là nạn nhân. Đó là thành tựu lớn của điều Wagner gọi là tác phẩm nghệ thuật tổng thể: Gesamtkunstwerk.
Cơ chế nghi lễ hiến tế được Tristan và Isolde nội tâm hóa, để người xem hiểu xung lực hướng tới cái chết như một dạng tất yếu trong tác phẩm. Họ tự hiến dâng cho nhau bằng cách chấp nhận sự cô lập chung, điều không tránh khỏi sẽ cắt họ khỏi thế giới; trong đó, mỗi người hoàn toàn và trọn vẹn thuộc về người kia.
Scruton lập luận rằng Tristan und Isolde cho thấy tình yêu là quan hệ giữa những sinh thể sẽ chết; nó dạy ta bản chất của chính mình. Tình yêu hữu hạn, được thúc đẩy bởi nhu cầu bản năng, vướng trong ích kỷ và thỏa hiệp – những điều được gợi trong kịch và bộc lộ qua liều thuốc tình định mệnh. Nhưng tình yêu cũng cho thấy điều con người có thể đạt tới: qua hy sinh, ta có thể vượt lên số phận hữu hạn bằng cách chủ động chấp nhận nó.
Ở điểm thử thách của eros, điều hiện ra là con người không chỉ là nạn nhân. Tình yêu dạy rằng ta cũng có thể trở thành người tự cứu chuộc mình. Wagner nhấn mạnh điều đó bằng cách gạt các cảm xúc khác khỏi nội tâm đôi tình nhân bất hạnh: họ trải nghiệm cốt lõi tình yêu như ý chí hướng về cái chết, mỗi người trở thành một “trái tim hiến dâng cho cái chết”. Đồng thời, sự cứu chuộc của họ trong cái chết đem lại hy vọng cho cộng đồng người sống đã nhìn và cảm nhận góc nhìn ấy từ bên trong.
Nghệ thuật không thể thay thế tôn giáo
Scruton không tin nghệ thuật có thể thay thế tôn giáo. Theo nghĩa đó, phương án kịch nghệ Wagner đưa ra cho một nền văn hóa sống sau khi các vị thần của mình đã mất không thể cứu chúng ta.
Nhưng Wagner dạy một điều thiết yếu về bản tính tôn giáo, vốn không dễ dàng biến mất bất kể niềm tin được tuyên xưng là gì. Chúng ta là những sinh thể khao khát trải nghiệm điều thiêng liêng; chỉ cần nhìn vào đời sống tình yêu, có thật hay tưởng tượng, cũng thấy điều ấy.
Trong Tristan, Wagner kết hợp nghệ thuật và điều thiêng liêng như người Hy Lạp trước đó, qua suy tưởng về một trong những cảm xúc bí ẩn, phức tạp nhất. Trải nghiệm tình yêu đôi lứa cho thấy đời sống trong thân xác có thể được cứu chuộc.
Ngay cả trước cái chết, điều quan trọng nhất không chỉ là con người phải chết, mà là ta có tự do hy sinh cho những mục đích hữu hạn. Khi hiểu tình yêu là quan hệ giữa những sinh thể sẽ chết, ta có thể vượt lên điều phù du, bị định đoạt và những gì thuộc thế gian đe dọa sự cứu chuộc được mở ra trong chính tình cảnh hiện sinh của những sinh thể sinh ra để chết – chứ không phải bất chấp tình cảnh ấy.
James Bryson là nhà giáo và học giả, có bằng tiến sĩ Đại học Cambridge. Nghiên cứu của ông tập trung vào sự tiếp nhận triết học cổ đại trong triết học, thần học và văn học phương Tây. Quan điểm trong bài là của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.
Nguồn: The Epoch Times.
