
Bài viết thể hiện trải nghiệm và quan điểm cá nhân của tác giả Vương Lập Quân, đăng trên Đại Kỷ Nguyên ngày 1/11/2026.
Tôi rời trại giam đã ba mươi lăm năm. Nhưng đến hôm nay, ban đêm đi ngủ tôi vẫn phải bật đèn. Tôi thích ngủ một mình trong căn phòng nhỏ. Nghỉ trưa, dù chỉ nằm một lát, tôi cũng khóa cửa. Trước khi ngủ, tôi kiểm tra cửa ra vào và cửa sổ, đôi lúc kiểm tra rồi vẫn chưa yên tâm, phải xem lại lần nữa.
Tôi biết mình đã về nhà, không còn ở trại giam. Tôi cũng biết người nhà không phải kẻ thù. Thế nhưng khi vợ thức dậy ban đêm, rón rén đi qua phía chân giường, đôi lúc tôi bật ngồi dậy, buột miệng hỏi: “Em làm gì?” Cô ấy giật mình, tôi cũng rất khó chịu. Đây là cuộc sống thật của tôi, chẳng phải tình tiết trong phim.
Tôi luôn nghĩ: Khi mất tự do, tâm lý một người rốt cuộc biến đổi thế nào? Khi cánh cửa sắt cuối cùng mở ra, những biến đổi ấy còn kéo dài bao lâu?
Những ngày dài như năm trong trại tạm giam
Năm 1990, tôi bị bắt vì phong trào sinh viên năm 1989. Cảm giác khi ấy không chỉ là sợ ngồi tù, mà như rơi xuống vực sâu, cứ rơi mãi, không bao giờ chạm đáy. Thời gian bỗng trôi thật chậm. Bình thường một ngày qua rất nhanh; trong trại tạm giam, tôi mới hiểu thế nào là một ngày dài như một năm.
Tôi từng ở nhiều buồng giam, sau đó được chuyển sang một cơ sở giam giữ khác. Tôi nhớ buồng số sáu: tường xi măng đen sạm, trần cao, cửa sổ nhỏ và cao, ban ngày gần như không có ánh sáng tự nhiên. Một bóng đèn tù mù sáng suốt. Mấy chục người chen trong một buồng, ăn, ngủ, đi vệ sinh đều trong khoảng không ấy. Về sau, người ta kê thêm giường hai tầng bằng lưới thép san sát, số người lại đông hơn.
Có lần tôi bị nhốt vào nơi gọi là “buồng nhỏ”. Không giường, không chăn, chỉ có thể ngủ trên nền xi măng. Ba người dùng chung một chiếc thùng lớn; ban đêm, ngay cả cách tiểu tiện không gây tiếng động cũng phải tính đi tính lại. Ăn, ngủ, nói chuyện bình thường đều không dễ.
Tôi ví trạng thái ấy với động vật ăn cỏ trên thảo nguyên châu Phi: cúi đầu ăn mà mắt vẫn phải nhìn quanh, luôn sẵn sàng chạy thoát thân. Từ khi bị giam, tôi chẳng bao giờ dám ngủ thật say.
Khi nỗi sợ trở thành quy củ
Trong tù không chỉ có cửa, khóa và tường cao, mà còn cả một hệ thống quy tắc giữa người với người. Có điều viết trên tường, có điều chỉ tồn tại trong nét mặt, ánh mắt và ám hiệu. Phải biết lúc nào im lặng, lúc nào cười lấy lòng, lúc nào không được hỏi.
Tôi từng bị trùm đầu rồi đánh. Đánh xong, họ nói chỉ “đùa thôi”. Tôi còn phải cười theo. Tới giờ tôi vẫn nhớ tiếng cười khi ấy, nghẹn như khóc. Chịu oan ức mà phải giả như không có chuyện gì, cảm giác ấy còn khó chịu hơn đau đớn đơn thuần.
Sau đó, tôi được chuyển sang cơ sở giam giữ đối diện trại tạm giam. Khi bản án có hiệu lực, tôi không kháng cáo; thời gian thi hành còn lại chẳng nhiều nên không bị đưa tới trại lao cải khác. Nơi này không giống nhà tù tường cao: tường sân không quá cao, ban ngày còn phải ra ngoài lao động. Một cách quản lý là liên tục tập hợp đếm số. Tôi không thống kê, ước chừng mỗi ngày khoảng mười lần.
Sáu giờ sáng dậy, chỉ vài phút thu xếp chăn màn rồi chạy ra chỗ trống đếm số; rửa ráy xong lại đếm, ăn xong lại đếm. Tiếng “một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám” nối nhau như dây chuyền, người hô phải nhanh chóng quay đầu nhìn người kế tiếp. Theo trí nhớ của tôi, tốc độ thậm chí vượt nhiều đội huấn luyện quân sự tôi từng thấy. Không phải vì được huấn luyện tốt, mà vì đếm sai hoặc ngập ngừng đều có thể bị phạt.
Có người tù gầy nhỏ, hình như tên Hồ Cẩm. Một lần đếm sai, anh bị trói chặt bằng dây. Anh nhanh chóng nói chóng mặt, sau đó được cởi trói. Anh kể mình thật sự hơi chóng mặt, nhưng cố nói triệu chứng nặng hơn vì sợ tiếp tục bị trói sẽ xảy ra chuyện. Từ ấy, anh luôn muốn đứng phía trước và hết sức cẩn thận khi đếm số.
Chỉ chậm một nhịp đã có thể bị phạt, ai dám thả lỏng? Bề ngoài đếm số đều tăm tắp, phía sau là nỗi sợ sai của từng người.
Không còn tin tưởng lẫn nhau
Người bị giam chung bề ngoài là bạn tù, trong lòng chưa chắc tin nhau. Không ai biết lời nào của mình sẽ bị tố giác. Tôi từng nghe có tù nhân muốn được giảm án nên chủ động gom bí mật của người khác, thậm chí dò manh mối các vụ án lớn. Có một kẻ trộm chuyên nghiệp giỏi làm thân. Nghe nói anh ta moi được chuyện một tù nhân khác từng giết người, rồi báo nhà chức trách và nhờ đó được thả sớm.
Tôi không phủ nhận tố giác tội phạm có thật đôi lúc giúp phá án. Nhưng trong môi trường phức tạp ấy, sự tin tưởng rất dễ biến chất. Tưởng người kia quan tâm mình, hóa ra họ có thể đang dò bí mật; sợ bị phản bội, người ta phải học cách giấu giếm.
Không phải ai vào tù cũng trở thành người xấu, nhưng môi trường ấy khiến lòng tin bình thường trở nên hiếm quý và buộc nhiều người coi đề phòng là bản lĩnh sống còn. Dĩ nhiên tôi cũng gặp người tốt. Bạn cùng buồng tên Triệu Phú Bình đã tìm cách nới còng khi đôi tay tôi bị siết quá chặt. Tôi vẫn không quên lòng tốt ấy.
Những người quản giáo
Tôi còn muốn nói, người chịu ảnh hưởng trong môi trường ấy không chỉ là tù nhân mà cả quản giáo. Ngày ngày tiếp xúc tù nhân, họ phải ngăn bỏ trốn, xung đột hay trả thù. Họ quen dùng mặt lạnh, mệnh lệnh và trừng phạt để giữ uy quyền. Tiếp xúc gần cũng khiến họ gặp rủi ro. Tôi từng nghe tại một số trại lao cải, có tù nhân vì oán hận đã dùng gạch tấn công quản giáo.
Một việc tới giờ tôi không quên: có tù nhân nhiều lần báo bệnh. Bác sĩ họ Lưu tới cửa buồng, bảo anh ta ngồi xổm rồi hỏi: “Anh bệnh à?” Anh đáp: “Bệnh.” Bác sĩ tát anh. Anh đổi lời nói không bệnh, lại bị đánh: “Không bệnh sao lại nói bệnh?”
Nói bệnh bị đánh, nói không bệnh cũng bị đánh. Cuối cùng, anh không được dùng thuốc, cũng chẳng biết phải trả lời ra sao. Tôi nghĩ, bác sĩ đáng ra chữa bệnh cứu người, sao có thể đối xử với tù nhân như vậy?
Một bác sĩ khác lại để lại ký ức hoàn toàn khác. Hai phần trước bàn chân tôi lở loét, thậm chí thành lỗ, đi rất đau. Sau khi báo bệnh, một bác sĩ cho tôi tới trạm y tế, bôi thuốc và cho vài viên uống. Ông còn rót một cốc nước, bảo tôi nghỉ thêm, có bệnh cứ nói với ông.
Mấy chục năm sau tôi vẫn nhớ cốc nước ấy. Ra tù, tôi đã tìm ông để mời ăn, nhưng ông được điều đi nơi khác, tôi không gặp được. Hôm nay nghĩ lại, tôi vẫn vô cùng biết ơn.
Còn một trưởng trại tạm giam, khi tôi mới vào và liên tục kêu oan, đã gọi tôi nói chuyện. Xem hồ sơ xong, ông nói thấy tôi “hơi oan”, nhưng không có quyền thả. Ông nói: “Chúng tôi như cái kho, các anh như hàng hóa được gửi ở đây. Tôi phải giữ cho tốt, không mất, không hỏng.” Tôi hiểu ông chỉ là người trông giữ, không quyết định số phận tôi.
Những ảnh hưởng còn lại sau khi ra tù
Năm 1991, tôi ra tù. Thân thể rời tường cao nhưng tâm lý cảnh giác không biến mất. Tôi vẫn sống trong ký ức đau đớn. Thời gian khiến nỗi đau vơi dần, nhưng đến nay mỗi năm vẫn có khoảng một tháng tôi đặc biệt khó chịu.
Mười năm đầu, tôi rất sợ bị bắt lại. Cha từng dặn hồ sơ tôi còn ở công an, có biến động gì họ có thể nghĩ tới tôi trước tiên. Lời ấy thành lời nhắc hằng ngày. Mùa hè Hồ Bắc nóng đến đâu, tôi cũng không dám mở cửa sổ ngủ. Mỗi tối khóa cửa xong phải kiểm tra lại; cửa sổ đóng kín rồi vẫn sờ xem lần nữa.
Năm 2016, tôi sang Mỹ. Thấy nhiều nhà không có song sắt, cửa gỗ cũng chẳng dày, tôi nghĩ cửa như vậy đạp một cái chẳng phải bung ra sao? Thế là tôi bỏ vài chục USD mua thanh chặn cửa, nuôi thêm một con chó chăn cừu Đức. Ban đêm để nó canh hành lang, tôi ngủ trên lầu. Người khác nhìn thấy căn nhà bình thường, tôi vẫn đề phòng nguy hiểm có thể ập tới bất cứ lúc nào.
Sự cảnh giác còn ảnh hưởng cách nói và giấc ngủ. Đôi khi tôi vô thức phát ra một âm thanh, vừa mở miệng đã thấy không ổn, lập tức cắt ngang. Đáng ra định nói “đồng ý”, cuối cùng chỉ ra một tiếng “đồng”, nghe như tiếng kêu lạ. Việc ấy khá thường xuyên, có lúc xảy ra hằng ngày. Là triệu chứng gì, tôi không biết.
Có khi vợ dậy đi vệ sinh lúc nửa đêm, nhẹ nhàng qua chân giường, tôi bỗng bật ngồi khiến cô ấy giật mình. Không phải tôi sợ vợ hại mình, mà thân thể cứ bất giác phản ứng quá mức. Sợ bóng tối, ngủ một mình phải khóa cửa cũng theo tôi rất lâu. Đó là những ảnh hưởng kéo dài tôi phải chịu sau khi ra tù.
Cái giá của sự cảnh giác
Tôi biết con người cần đề phòng nguy hiểm; cảnh giác đôi lúc bảo vệ được mình và gia đình. Trải nghiệm trong trại giam khiến tôi quen nghĩ trước tới kết quả tệ nhất. Thói quen ấy từng giúp giảm thiệt hại, cũng đem lại ảnh hưởng tiêu cực.
Có lần, bạn đại học từ Mỹ về, chuẩn bị mở công ty tại Hàng Châu. Gặp mặt, ai cũng chúc thành công. Tôi lại nói: “Trước hết cậu nên nghĩ tới thất bại. Thất bại thì sao? Kết quả tệ nhất có chịu nổi không?” Tôi muốn nhắc bạn đề phòng rủi ro, nhưng anh không vui. Anh nghĩ kiến thức, bằng sáng chế và kinh nghiệm đủ giúp khởi nghiệp thành công. Ý tốt lại nói không đúng lúc, khiến anh cảm thấy tôi dội nước lạnh. Chúng tôi dần xa cách.
Tôi thừa nhận mình đôi lúc quá đề phòng cả vợ con và người quen. Đó là bản năng sinh tồn hình thành khi sống lâu trong nguy hiểm. Nó cản trở sự tin cậy thường ngày, khiến tôi cẩn thận hơn nhưng cũng phải trả giá bằng tình bạn.
Ảnh hưởng của đời sống giam giữ kéo dài bao lâu?
Người ta thường hỏi, mãn hạn tù rồi cuộc sống có thể bình thường trở lại không? Tôi nghĩ với một số người, ký ức sợ hãi có thể mờ dần; với người khác, ảnh hưởng có thể còn rất lâu. Trải nghiệm của tôi là ví dụ: ba mươi lăm năm đã qua, ảnh hưởng vẫn còn.
Tôi kể những điều này không phải để chứng minh trong tù chỉ có người ác, hay mọi quản giáo đều trở nên tàn nhẫn, càng không nói mọi người ra tù đều trả thù xã hội. Tôi tận mắt thấy điều ác, cũng tự mình cảm nhận lòng tốt.
Điều tôi muốn hỏi là: chế độ giam giữ của Đảng Cộng sản Trung Quốc rốt cuộc dẫn con người tới đâu? Nếu khi bị giam, người ta cảm thấy sợ hãi, học cách giấu giếm, chịu nhục và mất lòng tin ở người khác, thì làm sao ra tù lại dễ dàng sống bình thường? Nếu quản giáo làm việc lâu dài trong trạng thái đề phòng và áp chế, làm sao giữ được lòng trắc ẩn, kiên nhẫn và quan hệ bình thường?
Theo tôi, môi trường quản lý giam giữ tốt phải bảo đảm phẩm giá căn bản, chấm dứt ngược đãi, để người bệnh được chữa trị thích đáng; đồng thời giúp nhân viên hiểu rõ chức trách, quyền hạn và để người thi hành án học cách sống bình thường với người khác trong thời gian chấp hành.
Tôi rời nhà tù đã ba mươi lăm năm. Viết lại chuyện cũ, nhiều ký ức ùa về. Tôi mấy lần rơi nước mắt, như trở lại nơi ấy. Tôi muốn kể vì muốn nói rằng nơi giam giữ của Đảng Cộng sản Trung Quốc không chỉ gây sợ hãi; môi trường tàn khốc ấy còn gây tổn thương tâm lý, tinh thần, thậm chí ảnh hưởng cả đời. Mong mọi người từng bị tổn thương đều dần tìm lại phẩm giá và cảm giác an toàn đã mất.
Tác giả: Vương Lập Quân. Theo Đại Kỷ Nguyên. Bài viết là quan điểm cá nhân của tác giả.
