
Bình luận của Mark Bauerlein, đăng trên The Epoch Times ngày 16/10/2026. Những đánh giá và đề xuất dưới đây thể hiện quan điểm của tác giả.
Khi tiến gần cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ và nhìn lại tháng 11/2024, thật đáng chú ý khi giáo dục hiếm khi trở thành chủ đề tranh luận giữa các đảng hay lời hứa tranh cử. Năm 2000, giáo dục nằm trong suy nghĩ của nhiều người có chức vụ, dẫn đến Đạo luật No Child Left Behind năm 2001. Thống đốc Ron DeSantis từng lấy việc loại bỏ Common Core làm trọng tâm nhiệm kỳ đầu, đồng thời đưa vấn đề chính trị bản sắc trong trường học thành mục tiêu nổi bật. Nhưng trong mùa bầu cử này, giáo dục lại là chuyện thứ yếu.
Sự im ắng ấy thật lạ. Theo đánh giá của tôi, sự thật đáng buồn và đơn giản là trẻ em Mỹ đang tốt nghiệp trung học với kỹ năng, kiến thức thấp cùng những thói quen học tập kém. Điểm học bạ đúng là cao, nhưng điểm kiểm tra chuẩn hóa vẫn tiếp tục giảm. Tôi cho rằng chênh lệch ấy cho thấy nhiều giáo viên và trường học đã từ bỏ việc đánh giá thành tích một cách thực chất.
Ít sách nguyên cuốn được giao hơn, và số thực sự được đọc còn ít hơn nữa. Theo tôi, kiến thức lịch sử, công dân, nghệ thuật và văn học ở mức rất kém. Ngay cả một số học sinh tốt nghiệp được nhận vào những trường cạnh tranh như Harvard và Đại học California–San Diego đôi khi cũng phải học bổ trợ toán.
Trong nhiều thập niên, các nhà giáo dục đã xây dựng lý thuyết và phương pháp nhằm giúp học sinh đạt kết quả tốt hơn. Độc giả ở tuổi tôi có thể nhớ mô hình “lớp học mở”, khi nhiều lớp học trong những khu vực lớn, các nhóm cách nhau vài tuổi nhưng không có vách ngăn. Cách bố trí dựa trên quan niệm rằng tường khiến trẻ khó chịu và cản trở việc học. Thử nghiệm ấy không kéo dài.
Sau đó là phong trào đề cao lòng tự trọng, cho rằng trẻ sẽ học nhiều hơn nếu cảm thấy tốt hơn về bản thân. Giáo viên được khuyên nhẹ tay khi sửa sai, bớt phê bình. Theo tôi, đó là ý tưởng dễ nghe nhưng không có bằng chứng thực nghiệm hậu thuẫn.
Phong trào trách nhiệm giải trình, bắt đầu từ thập niên 1980, chuyển sự chú ý khỏi trẻ sang những người chịu trách nhiệm giáo dục. Quan điểm của phong trào là kiểm tra thường xuyên sẽ loại ra những giáo viên yếu kém, chương trình không thực chất và trường hoạt động không hiệu quả. Ở mức độ nào đó, nó thành công, nhưng đà suy giảm vẫn tiếp tục.
Đó là lý do những người cải cách, phần lớn thuộc cánh hữu, ủng hộ trường charter và phiếu hỗ trợ học phí, để cha mẹ thực hiện việc cải thiện bằng hành động đơn giản là đưa con ra khỏi hoàn cảnh không tốt. Phương pháp này không nhằm sửa các trường hiện hữu mà tạo ra những trường mới, tốt hơn.
Nhiều lý thuyết, phương pháp khác tiếp tục xuất hiện. Học tập cảm xúc–xã hội (SEL) là một trong những cách được các trường đào tạo giáo viên ủng hộ. Một cách khác là “tính phù hợp văn hóa”, nguyên tắc cho rằng lớp học nên phản ánh văn hóa xuất thân của học sinh; chẳng hạn, một lớp có học sinh Mỹ gốc Phi nên có chương trình với nhiều tài liệu Mỹ gốc Phi. Dù được tài trợ và kiên trì đến đâu, theo tôi, các nỗ lực ấy vẫn chưa đảo ngược xu hướng. Chúng ta tiếp tục đi xuống.
Trong lớp tiếng Anh năm lớp 11 của tôi vào năm 1976 tại một trường trung học công lập lớn, chúng tôi đọc “The Red Badge of Courage”, “Winesburg, Ohio”, “The Great Gatsby”, “A Farewell to Arms”, “The Sound and the Fury”, “Miss Lonelyhearts”, “Invisible Man”, “Seize the Day” và “Rabbit, Run”.
Thực tế còn có nhiều tiểu thuyết khác; đó chỉ là những cuốn tôi nhớ. Nhưng theo nhận định của tôi, không giáo viên tiếng Anh nào ở một trường công lập trung bình hôm nay lại giao số trang như thế. Đọc một tiểu thuyết 300 trang không nằm trong thói quen của Gen Z; nếu yêu cầu đọc hết và kiểm tra nghiêm túc, một giáo viên thành thật sẽ phải đánh trượt một nửa lớp.
Tôi cho rằng đây là điều mọi người đều biết. Bài viết trên The Atlantic nhiều tháng trước về sinh viên vào đại học mà chưa đọc hết một cuốn sách đã lan truyền mạnh vì nêu ra một thực tế hiển nhiên mà chúng ta không muốn thừa nhận.
Tuy nhiên, vẫn có giải pháp. Thứ nhất, đưa điện thoại ra khỏi trường, giảm thời gian dùng màn hình trong lớp và những bài tập dựa trên màn hình. Xây dựng văn hóa đọc từ các lớp nhỏ bằng việc đọc thành tiếng và củng cố thói quen tại nhà.
Hãy chọn chương trình tạo dựng kiến thức nền ở bậc trung học cơ sở, để việc đọc ở trung học phổ thông bớt khó hiểu; chẳng hạn, học sinh sẽ không bối rối trước dẫn chiếu về Người Samari nhân lành hay lối diễn đạt trang trọng. Đừng mất thời gian vào những vấn đề ngoài phạm vi văn học như thời sự và hành vi xã hội.
Hãy đưa những người phá rối và liên tục phản đối ra khỏi lớp, tìm giáo viên có sức cuốn hút để làm tác phẩm hư cấu sống dậy ở những khoảnh khắc kịch tính nhất. Cuối cùng, loại bỏ cơ hội dùng AI làm bài bằng những hình thức như thi vấn đáp, viết bài trong tập giấy thi hoặc làm bài viết tay ngay tại lớp.
Những cải cách ấy không hào nhoáng. Các đề xuất không dễ tạo tiếng vang như một lớp học trang bị công nghệ bóng bẩy mới nhất từng làm được vào năm 2015. Theo tôi, đó là một lý do giáo dục chỉ là chủ đề nhỏ trong bối cảnh chính trị hiện nay. Nhưng nó đáng được chú ý hơn. Nếu không sửa được trường học, nước Mỹ sẽ không bao giờ vĩ đại trở lại.
Quan điểm trong bài thuộc về tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.
Theo Mark Bauerlein, The Epoch Times, “If the Schools Don’t Improve, Nothing Else Will”, ngày 16/10/2026.
