
Phân tích – Bình luận. Tác giả: Jeffrey A. Tucker. Bài viết thể hiện quan điểm và cách diễn giải của tác giả.
Khi lần đầu tiếp xúc với âm nhạc thời Phục Hưng, có một tác phẩm nổi bật với tôi bởi vẻ đẹp bay bổng, vĩnh cửu đến khó hiểu. Đó là Miserere mei của Gregorio Allegri, người sống từ năm 1582 đến 1652, tức cuộc đời sáng tác trùng một phần với những tên tuổi nổi tiếng hơn nhiều như Claudio Monteverdi. Gần như đây là tác phẩm duy nhất khiến người ta nhớ đến ông.
Đó là một bản phổ nhạc đa thanh đầy ám ảnh cho lời khẩn cầu xin Chúa thương xót. Nó vừa đơn giản — thuộc dạng falsobordone, tức thánh ca được hòa âm, không phức tạp như những gì các nhạc sĩ khác sáng tác trong thập niên 1630 — lại vừa có sức vươn tới sự vĩnh cửu đầy bí ẩn. Phần soprano có nốt Đô cao vút, nghe như tiếng kêu đau đớn, lời cầu xin thương xót, hay một thiên thần ban ân sủng; khó biết là điều nào. Dù thế nào, người ta cũng không thể ngừng nghe.
Rồi ta gặp huyền thoại được truyền tụng, một phần đúng và một phần không. Chính ở đây, câu chuyện và những điều đáng suy ngẫm xuất hiện. Trước tiên là phiên bản mang màu sắc giai thoại.
Theo câu chuyện ấy, tác phẩm được viết cho Giáo hoàng Urban VIII, người rất ấn tượng với nó. Hằng năm, bản nhạc được trình diễn trong nghi thức Tenebrae mùa Chay tại Nhà nguyện Sistine. Nó đẹp đến mức người từ khắp châu Âu tìm đến chỉ để nghe.
Giáo hoàng rất muốn giữ bản thảo trong phạm vi riêng của Vatican. Vì thế, theo huyền thoại, ngài ra lệnh rút phép thông công bất kỳ ai lén đưa bản nhạc ra ngoài.
Thật hấp dẫn! Nhưng câu chuyện còn kỳ lạ hơn. Tiến tới khoảng một thế kỷ rưỡi sau, Wolfgang Mozart tới Vatican trong Tuần Thánh năm 1770, khi mới 14 tuổi. Cậu chăm chú nghe rồi rời đi. Khi có giấy, cậu chép lại toàn bộ tác phẩm từ trí nhớ và phổ biến nó, trước hết tới người cha ở quê nhà rồi tới những người khác, theo lời kể của huyền thoại.
Cũng theo huyền thoại, ban đầu Giáo hoàng giận dữ vì bí mật lớn đã bị tiết lộ. Nhưng suy nghĩ lại, ngài quyết định tha thứ vì nghệ thuật phi thường ấy thực sự nên thuộc về cả thế giới. Huyền thoại nói phiên bản ta nghe hôm nay chính là bản Mozart chép lại.
Điều gì đúng và điều gì không? Đúng là Allegri sáng tác một bản Miserere. Đúng là tác phẩm đã và vẫn được yêu thích. Đúng là Tòa thánh muốn giữ riêng nó. Đúng là Mozart tới Rome năm 14 tuổi và chép lại tác phẩm từ trí nhớ.
Từ đây, mọi việc phức tạp hơn. Phiên bản ta nghe ngày nay chỉ còn tương đồng mờ nhạt với tác phẩm Allegri viết. Bản gốc không có nốt Đô cao; cấu trúc và ngay cả phần lời Thánh vịnh cũng khác. Bản gốc có lẽ dựa vào những phần tô điểm ứng tác, nên mọi sự tái dựng đều có yếu tố diễn giải. Nếu chỉ biểu diễn đúng những gì được ghi lại, nó hơi tẻ nhạt.
Làm sao biết Mozart thực sự chép lại từ trí nhớ? Tất cả bắt nguồn từ bức thư người cha Leopold viết, nguồn chính của huyền thoại trong quá trình hình thành.
“Em thường nghe nói về bản Miserere nổi tiếng ở Rome, tác phẩm được coi trọng đến nỗi những người biểu diễn trong nhà nguyện bị cấm, dưới hình phạt rút phép thông công, mang đi dù chỉ một bè, sao chép hoặc trao cho bất kỳ ai. Nhưng chúng ta đã có nó rồi. Wolfgang đã chép lại. … Wolfgang thật tuyệt vời.”
Câu chuyện là vậy! Nhưng vấn đề là chưa ai tìm thấy sắc lệnh rút phép thông công nào liên quan tới tác phẩm trong các chiếu chỉ của Urban VIII hay những giáo hoàng sau đó. Nói cách khác, rất có thể Leopold phóng đại và kịch tính hóa tài năng của con trai, như các ông bố vẫn thường làm.
Vấn đề khác là Mozart khó có thể là người đầu tiên đưa bản nhạc ra ngoài. Những bản chép đã lưu hành tại Rome. Đến giữa thế kỷ XVIII, tác phẩm từng được trình diễn ở London, khoảng 30 năm trước chuyến đi Rome của Mozart. Thật thú vị!
Nhưng thực tế còn lạ hơn. Phiên bản ta nghe hôm nay — dàn hợp xướng do tôi chỉ huy từng trình diễn nó trong Tuần Thánh — không phải bản của Allegri cũng chẳng phải của Mozart. Chúng ta không có bản chép của Mozart, nhưng có bản xuất bản năm 1771 của Charles Burney, có lẽ dựa trên một phiên bản của Mozart. Bản Burney tương đối giản dị, không có những phần tô điểm nổi tiếng.
Hóa ra âm thanh đặc trưng nhất, nốt Đô cao đầy kịch tính, được trường phái biểu diễn hợp xướng Anh bổ sung về sau. Đó là phiên bản chúng ta có. Nó mang một vẻ hoàn hảo; nếu có đôi tai nhạy với điều này, bạn quả thực có thể thấy âm thanh dường như thuộc thế kỷ XIX, gần như sự tái tạo lãng mạn một tác phẩm cuối thời Trung Cổ. Theo cách tôi nhìn nhận, đó chính là bản chất của phiên bản này.
Điều đó có làm mất đi phép màu không? Trong thế giới sáng tác âm nhạc, chúng ta thích tìm kiếm những thiên tài đơn lẻ. Ta nói về Bach, Mozart và Beethoven như thể họ được thần linh chạm tới để trao cho nhân loại sự mặc khải. Ta tôn vinh họ như những anh hùng vĩ đại. Điều ấy không có gì sai, nhưng việc đề cao một cá nhân sáng tạo thiên tài che khuất thực tế gồ ghề hơn.
Trong thế giới thực, nghệ thuật và âm nhạc đi theo con đường phát triển qua nhiều lần làm lại. Hãy nghĩ tới I Will Always Love You, bài hát được Whitney Houston làm nổi tiếng; chính phần trình diễn ấy cũng khiến cô trở thành huyền thoại. Mãi gần đây tôi mới biết Dolly Parton là người sáng tác. Nghe bản của Parton, tôi thấy hay, nhưng không thể sánh với điều Houston cùng bản phối của cô đã làm được.
Tôi cũng có cảm giác ấy với nhiều bài của Bob Dylan. Chúng ấn tượng hơn nhiều trong các phiên bản sau. Với phần lớn nhạc đại chúng như vậy, đúng là cần sự góp sức của cả cộng đồng để làm nên kiệt tác. Chúng ta cần những bản thể hiện lại để nghệ thuật tìm tới định mệnh của nó.
Hoặc hãy xét Could It Be Magic của Barry Manilow, được xây dựng trực tiếp trên bản Prelude giọng Đô thứ của Chopin. Còn All by Myself của Eric Carmen thực chất dựa trên chương hai, Adagio sostenuto, trong Concerto piano số 2 giọng Đô thứ của Rachmaninoff. Cả hai đều là ví dụ tuyệt vời về khả năng thích ứng lớn lao của một ý tưởng nghệ thuật hay.
Và đó mới chỉ là vài thập niên trong thời đại chúng ta! Hãy tưởng tượng nếu bàn về bốn thế kỷ: sẽ có bao nhiêu lần phát triển, thể hiện lại, biến đổi và phiên bản của một tác phẩm âm nhạc thực sự vĩ đại? Rất nhiều.
Cuối cùng, điều này đặt ra câu hỏi sâu sắc: chính xác ai chịu trách nhiệm cho phiên bản Miserere mà ta nghe ngày nay, cũng là bản tôi từng chỉ huy? Câu trả lời của tôi là William Smith Rockstro, nhà âm nhạc học Anh thời Victoria. Ấn bản của ông ra đời năm 1880, làm thay đổi cách trình diễn trên khắp thế giới. Dĩ nhiên, tác phẩm vẫn được ghi tên Gregorio Allegri, nhưng thực tế có nhiều nhà soạn nhạc và nghệ sĩ biểu diễn đã góp phần tạo nên hình hài hiện tại.
Vì vậy, người nghe nhận ra chút màu sắc lãng mạn thời Victoria trong tác phẩm là hoàn toàn có lý. Đây thực sự là sự tái tạo, lý tưởng hóa bản gốc từ hàng trăm năm trước. Cùng thời kỳ, các nhà âm nhạc học cũng làm điều tương tự với chính thánh ca Gregorian — một chủ đề dành cho dịp khác.
Đúng là có những thiên tài, những cá nhân để lại cho chúng ta sự hoàn hảo. Nhưng mô thức chủ đạo giống một quá trình tiến hóa hơn là sự sáng tạo từ một điểm duy nhất: ý tưởng được chia sẻ giữa các cộng đồng, nền văn hóa và qua những khoảng thời gian kéo dài nhiều thế kỷ. Tôi thấy điều ấy duyên dáng, và gần như kỳ diệu chẳng kém huyền thoại.
Quan điểm trong bài thuộc về tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.
Theo Jeffrey A. Tucker, The Epoch Times.
