Tiếp theo Phần I

Khi toàn xã hội không đạt được đến “thiên hạ vi công”, thì “thiên hạ vi gia” sẽ duy trì được truyền thống đạo đức và trật tự xã hội của văn minh nhân loại.

Khổng Tử nói rằng khi “Đại Đạo ẩn thế” (Đại Đạo ẩn lánh thế gian) thì chính là trạng thái “thiên hạ vi gia” (thiên hạ vì gia đình). Bằng cách tương tự, Khổng Tử cũng lấy trạng thái đạo đức để mô tả xã hội “tiểu khang” trong thời đại “Đại Đạo ẩn thế”. Ví dụ, các giai tầng khác nhau trong xã hội đều lấy “gia đình” làm cốt lõi, họ chăm lo cho gia đình và con cái của họ; tài sản và nhân lực tương ứng đều được coi là sở hữu của riêng họ; hiện tượng kế thừa gia tộc được coi là lễ chế mà trời đất công nhận; xuất hiện quyền lực và giới tuyến của thành bang và quốc gia; sử dụng biểu tượng quy tắc lễ nghĩa và đạo nghĩa để duy hộ quy phạm và chuẩn tắc đời sống xã hội, do đó dẫn tới các chuẩn tắc quan hệ và yêu cầu đạo đức có tính trật tự và đẳng cấp như quân thần, phụ tử, huynh đệ, phu thê v.v.; kiến lập các chủng các dạng chế độ xã hội, phân chia các loại quyền sở hữu đất đai và tài sản; coi trọng người dũng mãnh và thông minh, có công lao sẽ được phần hơn; do đó xã hội sản sinh các chủng tư tưởng mưu lược toan tính chiếm hữu, giữa chúng thường có các chủng loại hình đấu tranh và chiến tranh. Khổng Tử nhận định, trong thời đại “Đại Đạo ẩn thế”, người mà thể hiện ra phương diện chính diện được gọi là “quân tử”, như “Vũ, Thang, Văn, Vũ, Thành Vương, Chu Công” mới là anh hùng thiên tuyển trong thời đại “Đại Đạo ẩn thế”, chính vì họ cẩn thận tuân thủ lễ chế, tuyên dương đạo nghĩa, thành tựu tín nhiệm, ứng xử cân nhắc thận trọng, đề xướng nhân ái, giảng khiêm nhường, trị quốc bằng tiêu chuẩn hiến chương. Nếu không làm như vậy, chính là vi phạm đạo nghĩa. Không tuân thủ lễ chế, người làm quân chủ sẽ bị phế truất, dân chúng sẽ coi đó là tai họa. Trạng thái xã hội như vậy được gọi là “tiểu khang”. “Khang” chính là ý nghĩa an khang, an tĩnh. “Tiểu khang” có nghĩa là sự an khang an tĩnh nho nhỏ.

Khi toàn xã hội không đạt được đến “thiên hạ vi công”, thì “thiên hạ vi gia” sẽ duy trì được truyền thống đạo đức và trật tự xã hội của văn minh nhân loại. Ta thấy không phải ngẫu nhiên mà cả Nho gia và Đạo gia đều coi “gia đình” là nơi tu hành. 

Bức tranh là một phần trong bức tranh “Tống Cao Tông Thư Mã Hòa Chi Hội Đồ” của Mã Hòa Chi triều Tống. (phạm vi công cộng)

Rõ ràng, cách miêu tả của Khổng Tử mang đầy đặc trưng thời đại, cũng có thể nói là có tính cục hạn nhất định về tầng diện lý thuyết, nhưng chúng ta không phải là không thể dựa trên cơ sở này mà mở rộng mô thức lý luận của ông. Người viết cố gắng tóm tắt các đặc trưng được điểm ra sau đây để thuyết minh, nhằm truyền cảm hứng cho các chuyên gia sau này nghiên cứu sâu hơn:

Trước hết, thời đại “Đại Đạo ẩn thế” không phải là “không có Đại Đạo”, mà là sự vận hành và tác dụng của “Đại Đạo” trong xã hội là tương đối ẩn tàng. Nói cách khác, so với xã hội nơi “Đại Đạo” hiển hiện, thì đến thời đại này, biểu hiện của “Đại Đạo” là ẩn tàng. Đương nhiên, lời giải thích của tôi chỉ là một cách biểu đạt ngôn từ đại khái và không chính xác lắm. Tuy nhiên, xét từ biểu hiện trạng thái xã hội, có một điểm có thể khẳng định là, tại thời đại “Đại Đạo ẩn thế”, bầu không khí xã hội là chỉnh thể đa số dân chúng đối với trình độ lý giải và trình độ tu hành “Đại Đạo” không đạt đến mức của thời đại “Đại Đạo hành thế”; nói cách khác, rất nhiều thế nhân không lý giải tốt ý nghĩa chân chính của “Đại Đạo”, cũng không có ý thức cá nhân và bầu không khí xã hội lớn mạnh của tu hành và tu luyện. Vậy thì “Đại Đạo” trong mắt và trong tâm họ chính là trạng thái “ẩn tàng”. Do đó, chúng ta có thể khẳng định, Khổng Tử nói về “Đại Đạo kí ẩn” không có nghĩa là phủ định sự tồn tại của “Đại Đạo”, cũng không nói là “Đại Đạo” bị tiêu mất, mà có thể trạng thái chân thực là “Đại Đạo” dùng phương thức ẩn tàng để vận tác những pháp tắc và biến hóa của thế gian, đồng thời khiến thế nhân trong thật thật giả giả, hư hư thực thực mà thể ngộ và tham tầm ý nghĩa của “Đại Đạo”.

Thứ hai, thời đại “Đại Đạo ẩn thế” có trạng thái đặc trưng bởi biểu hiện “thiên hạ vi gia”. Vậy thì, “gia” trong “Thiên hạ vi gia” không có ý chê bai châm biếm, mà là một mô tả có tính khẳng định về một loại trạng thái xã hội. Bởi vì, khi “Đại Đạo” bị ẩn tàng, khuất lấp thì những vấn đề về trật tự xã hội, bầu không khí, đạo đức… sẽ nổi lên, và để có thể duy hộ hệ thống trường sở đơn nguyên của trật tự và đạo đức trong tầng diện tối cơ bản của xã hội, thì từ cổ chí kim, chỉ có “gia đình” là tổ chức đơn vị xã hội bất biến nhất, ổn định nhất, kiên cố nhất, cơ bản nhất. “Gia đình” thông qua mối quan hệ huyết thống tự nhiên, thiết lập một cách hiệu quả mối thân tình ổn định, có thể dựa vào đó để kế thừa truyền thống văn hóa và vai trò xã hội, đồng thời có thể mở rộng nó để tạo ra tài vật và thể chế xã hội, v.v. Có thể nói, văn hóa “thiên hạ vi gia” là hiện tượng văn hóa căn bản nhất trong lịch sử 5.000 năm văn minh nhân loại lần này, đồng thời cũng là quan niệm giá trị cốt lõi của quá trình biến hóa của lịch sử nhân loại. Có thể nói, nếu không có “gia đình”, tiến trình lịch sử nhân loại có thể sẽ trở nên phức tạp và suy đồi nhanh hơn, khó có thể trong thời đại “Đại Đạo ẩn thế” mà diễn tiến tốt đẹp. Chúng ta đã thấy rằng thời đại “thiên hạ vi gia” cũng có thể sáng tạo thời đại thịnh thế, mặc dù nó không thể hoàn mỹ. Cũng chính là nói, khi chỉnh thể xã hội không đạt được đến “thiên hạ vi công”, thì “thiên hạ vi gia” sẽ duy hộ truyền thống đạo đức và trật tự xã hội của văn minh nhân loại. Chúng ta nhìn thấy, Nho gia và Đạo gia coi “gia đình” là đạo trường tư hành, tuyệt đối không phải ngẫu nhiên, hoặc có thể nói đó là một loại an bài ẩn tàng của “Đại Đạo”.

Tất nhiên, còn rất nhiều rất nhiều điều để nói về nhiều tầng diện “gia đình” của nhân loại. Bản nghĩa văn hóa thần truyền vốn có của “gia đình” vẫn cần được tìm hiểu thêm. Trải qua bao thời đại, “gia đình” đã trải qua những thăng trầm cùng với tiến trình của lịch sử nhân loại, đã có nhiều khúc ngoặt, thay đổi và biến dạng. Đặc biệt trong thế giới hiện đại, các chủng các dạng trào lưu tư tưởng văn hóa và công nghệ đang thay đổi phương thức sinh sống của con người, vai trò xã hội và chức năng xã hội mà “gia đình” được phân diễn cũng bị uy hiếp trên nhiều phương diện. Rất nhiều người nhận định rằng, thời đại này so với thời đại “Đại Đạo ẩn thế” càng hư hỏng hơn, thậm chí có người nhận định thời đại này là “Đại Đạo luân táng” – Đại Đạo chết dần. Chúng ta có thể ý thức được điều đó, ví như, những sự uy hiếp đó đến từ tư tưởng “vô thần luận”, từ các chủng các loại “chủ nghĩa cộng sản” và “chủ nghĩa xã hội”, đến từ đến sự phá hoại cuộc sống tình cảm hiện đại, đến từ sự thao khống của quyền lực chính trị và dục vọng cá nhân, đến từ những quan niệm khoa học biến dị v.v. “Gia đình” đang đối mặt với những thách thức và áp lực xã hội chưa từng có, đồng thời, “gia đình” cũng có thể, trong một số tình huống đặc định, tránh được những xói mòn xã hội này một cách hiệu quả, trở thành bến cảng bảo vệ cho đời sống xã hội.

Tôi thành tâm mong rằng, rất nhiều người lương thiện sẽ chăm sóc bảo vệ tốt cho “gia đình của mình và của người khác”, trong thời đại như vậy, hãy phát huy niềm tin và hy vọng rằng “Đông sắp tàn, Xuân đang tới”, tuân theo pháp tắc của “Đại Đạo”, “Đại Pháp” của trời đất thiên địa, xây dựng gia đình của riêng bạn thành một con tàu, và vững vàng chèo chống hướng tới mùa xuân đang tới.

Tài liệu tham khảo

“Thi Kinh”
“Tứ Thư Tuyển Tập”, Nam Tống Chu Hy 
“Đạo Đức Kinh”, Tam Quốc Vương Bật
“Lễ Ký Chính Nghĩa”, Đường Đại Khổng Dĩnh

Tác giả: Mai Hoa Nhất Điểm, The Epoch Times
Hương Thảo biên dịch

Từ Khóa: