Tung Sơn, nơi những đỉnh núi và rặng núi nối nhau, sừng sững trên bầu trời. Phía đông giáp với kinh đô Khai Phong của 7 đời, phía tây giáp với cố đô Lạc Dương của 9 triều đại, giống như con rồng lớn nằm ngang Thần Châu, đứng thẳng giữa Trung Nguyên. Từ xưa đến nay, núi Tung Sơn được xem là thánh địa cho tăng sĩ tu hành, gặp cơ duyên ngộ đạo, cũng là nơi trung tâm bái tế Trời đất, phụng theo Thiên mệnh của các đời hoàng đế…

Các nhà hiền triết thời xưa cho rằng, giang sơn tốt đẹp của Thần Châu đối ứng với các ngôi sao trên trời, mà Tung Sơn nằm ở ranh giới của sao Hiên Viên. Trong truyền thuyết, chòm sao Hiên Viên được sắp xếp theo hình dạng giống như Hoàng Đế (Hiên Viên hoàng đế) cưỡi rồng bay lên trời, vì vậy mà có tên này. Cao tăng Nhất Hạnh của nước Đại Đường từng nói rằng, trong thời kỳ thượng cổ có năm vị hoàng đế, Hiên Viên hoàng đế nằm ở chính giữa, tượng trưng trung nhạc. Tung Sơn nằm ở trung tâm của Ngũ Nhạc (Ngũ Nhạc là cách gọi chung của 5 ngọn núi thiêng của Trung Quốc gồm: núi Thái Sơn, núi Hoa Sơn, núi Tung Sơn, núi Hằng Sơn, núi Hoành Sơn), vì vậy mới có tên gọi “Trung Nhạc” – Tung Sơn.

Tương truyền Hiên Viên Hoàng Đế đi lên núi Tung Sơn, bái kỳ nhân Hoa Cái làm sư phụ, chế định ra lịch, mở ra nền văn minh Hoa Hạ. Thái Thượng Lão Quân đạp mây cưỡi rồng, bay xuống đỉnh núi Tung Sơn để giáo hóa bách linh, trợ hưng môn đạo. Những người có kiến thức uyên bác nhiều đời đều tập hợp tại núi Tung Sơn để dạy học, truyền thụ kinh nghiệm kiến thức, lập tâm giữa đất trời, thiết lập giá trị đạo đức cao cả cho thiên hạ, kế thừa những thành tựu của nền văn minh, lấy phong cách học thịnh hành làm mẫu cho nhân gian. Hang động Đạo giáo, thánh địa Nho học, Thiền tông tổ đình phản chiếu lẫn nhau, làm rạng rỡ Tung Sơn.

Các dãy núi Trung Nhạc – Tung Sơn nối tiếp nhau, sừng sững trên bầu trời. (Phạm vi công cộng))

Trên núi Tung Sơn nằm giữa những ngọn núi cao chót vót, Thiếu Lâm cổ tự yên tĩnh giữa trần ai giống như một viên minh châu sáng chói, tỏa sáng cùng nhật nguyệt, kết duyên với bánh xe pháp, chiếm hết mọi nét đẹp sinh động của nhân gian. Thiếu Lâm tập hợp tu hành, thiền học, võ công, y dược lại với nhau tại một nơi, tiêu diêu tự tại độc bước thiên hạ, trở thành ngôi chùa nổi tiếng hàng đầu tại Thần Châu. Hàng ngàn năm qua, các vị hoàng đế, tể tướng tướng quân, quý tộc hay quan lớn đều ngưỡng mộ Thiếu Lâm, nhìn rộng ra vũ trụ to lớn, nhìn xuống thiên hạ nhỏ bé, dường như mọi ân oán thị phi đều có thể hóa thành làn khói nhẹ mong manh trong lòng. Đông đảo quần chúng đi đến đảnh lễ Thiếu Lâm, hoặc thắp nhang cầu phúc, hoặc tham thiền ngộ đạo, từ xưa đến nay đều liên tục không dứt.

Tuy nhiên, Thiếu Lâm cổ tự nổi tiếng khắp thiên hạ, dưới sự cải tạo và hủy hoại của ĐCSTQ, đã thoát xác biến thành tham lam bất chính một cách vô độ, mở ra một nơi giao dịch kinh tế của nhà nước, và trở thành công cụ chính trị để che đậy cho chính quyền ĐCSTQ. Ngày xưa Thiếu Lâm Tự dùng để cầu phúc tránh họa cho quốc gia, giải thích nghi hoặc cho người dân, ngày nay đã mất đi tinh thần trung nghĩa hộ quốc, cũng mất đi sự yên bình để tĩnh tu tham thiền. Thiếu Lâm ngày nay đang đối mặt với kiếp nạn thực sự. Vì vậy, khám phá văn hóa truyền thống lâu đời của Thiếu Lâm cổ tự, tái hiện lại nền văn minh tín ngưỡng huy hoàng, mới là ý nghĩa thật sự của bài viết này.

(Thiếu Lâm Tự trên núi Tung Sơn, Hà Nam, Trung Quốc. (Ảnh: Shutterstock)

Bạt Đà Thần tăng vân du đến Trung thổ…

Thiếu Lâm Tự được xây dựng vào năm Thái Hòa thứ 19 của Bắc Ngụy (năm 495), là Hiếu Văn Đế của Bắc Ngụy xây dựng cho tu sĩ Bạt Đà của Thiên Trúc (Ấn Độ). Bạt Đà 6 tuổi mất cha, từ nhỏ cùng mẹ sống nương dựa vào nhau. Sau khi Bạt Đà quy y cửa Phật, dũng mãnh tu hành, chuyên cần khổ tu trải qua hơn 20 năm, nhưng vẫn chưa tu thành chánh quả. Bạt Đà vô cùng khổ não đã từng nghĩ đến chuyện tự sát, lúc bấy giờ có một vị đồng môn từ lâu đã đắc đạo chỉ dạy Bạt Đà rằng: “Tu hành cần có cơ duyên, khi thời cơ đến, cậu sẽ tự nhiên có thu hoạch thôi. Cậu đặc biệt có duyên với Trung Quốc, tại sao không thử đến đó tu hành chứ?”

Dưới sự chỉ dẫn của đồng môn, Bạt Đà và bạn mình cùng nhau đi vân du các nước. Đầu tiên họ đi đến Phất Lâm quốc, tức đế quốc Đông La Mã, sau đó lại men theo con đường tơ lụa đi qua Tây Vực, trải qua chuyến hành trình rất dài, cuối cùng cũng đến được Bình Thành của Trung Quốc (nay thuộc Đại Đồng, Sơn Tây) đúng vào thời kỳ Bắc Ngụy Phật pháp hưng thịnh.

Triều đại Bắc Ngụy được xây dựng bởi Thác Bạt Khuê của Tiên Ti tộc vào năm 386 sau Công Nguyên. Dòng họ Thác Bạt tự xưng là hậu duệ của Hoàng Đế (tức Hiên Viên hoàng đế), bởi vì khởi nguồn hưng thịnh của Hoàng Đế là ở nước Ngụy trong thời kỳ chiến quốc, mà “Ngụy” mang ý nghĩa là cao lớn, tốt đẹp, khiến người khác khiếp sợ, vì vậy lấy quốc hiệu là “Ngụy”, lịch sử gọi là Bắc Ngụy. Sau khi Thác Bạt Khuê thành lập đất nước, liền bắt tay vào xây dựng cung thất, chùa chiền đền thờ. Ngoại trừ Thác Bạt Đảo từng nghiêm cấm Phật giáo, quốc vương của các đời Bắc Ngụy đều rất kính trọng Phật giáo.

Địa linh nhân kiệt, Thiếu Lâm Tự ra đời

Hiếu Văn Đế của Bắc Ngụy rất kính tín Phật pháp, rất kính trọng những tu sĩ đến từ Tây Vực. Khi Bạt Đà đến Trung Quốc, Hiếu Văn Đế còn đặc biệt lấy tài sản trong ngân khố ra để cúng dường Bạt Đà, lại cho người tạo tác lại hang đá để cho Bạt Đà có thể yên tâm ngồi thiền tu luyện mà không lo bị quấy rầy.

Khi đó bên trong Bình Thành có một phú hào họ Khang, cả đời tin tưởng Phật pháp, rất vui thích bố thí, ông cũng bỏ tiền ra xây một ngôi chùa nhỏ cho Bạt Đà.

Bạt Đà thường xuyên ngồi thiền tĩnh tu ở trong đó. Một hôm, có một đám trẻ con nghịch ngợm tò mò muốn nhìn xem vị tu sĩ có tướng mạo dị thường này trông ra sao, chúng liền nhìn trộm Bạt Đà qua khe cửa. Không ngờ, đám trẻ con nhìn thấy trong thất có một luồng ánh sáng “nóng rực”, tưởng rằng trong thất bị cháy, chúng sợ quá liền chạy đi báo với chủ nhân của nhà họ Khang. Khi đám chủ nhân chạy đến nơi, chỉ nhìn thấy Bạt Đà vẫn ở bên trong thất chuyên tâm ngồi thiền, hoàn toàn không có ngọn lửa nào. Khi đó, mọi người mới hiểu ra huyền cơ trong tu hành của Bạt Đà và sự thù thắng của người đắc đạo.

Hiếu Văn Đế của Bắc Ngụy rất yêu thích văn hóa của Hán tộc, ông phá vỡ những rào cản của quý tộc Tiên Ti, cải cách toàn diện những phong tục cũ của Tiên Ti tộc. Ông đổi họ Thác Bạt của mình thành họ “Nguyên” của người Hán, và di dời kinh đô từ Bình Thành đến Lạc Dương. Lần di dời kinh đô này mất hai năm. Trong đám người di dời ấy, Bạt Đà cũng theo họ chống gậy mà đi. Sau khi đến Lạc Dương, Hiếu Văn Đế lại kiến tạo một nơi tĩnh tu cho Bạt Đà lần nữa, để tiện cho Bạt Đà ngồi thiền tu hành. Nhưng Bạt Đà yêu thích núi rừng, muốn đi đến Tung Sơn. Hiếu Văn Đế chiều theo ý muốn của ông, xây dựng một ngôi chùa cho Bạt Đà trên núi Thiếu Thất thuộc dãy núi Tung Sơn.

Tung Sơn đông tây nằm ngang, chia làm hai phần Thái Thất và Thiếu Thất. Từ núi nam hướng ra phía bắc có thể nhìn thấy dãy núi Thiếu Thất, chỉ nhìn thấy các đỉnh núi nối liền nhau, giống như hoa sen xòe ra ngàn cánh, trình hiện ra hết toàn bộ cảnh sắc thiêng liêng, vì vậy trong thời Đại Đường có một câu nói là “Thiếu Thất như hoa sen”, bá tánh gọi ngọn núi này là “Cửu Đỉnh Liên Hoa Sơn”. Năm Thái Hòa thứ 19 (năm 495), Hiếu Văn Đế xây một ngôi chùa cho Bạt Đà, tọa lạc tại rừng rậm phía sau Cửu Đỉnh Liên Hoa Sơn, vì vậy đặt tên là Thiếu Lâm Tự.

Mở pháp hội tại nơi dịch Kinh thư, trời ban cam lồ

Thiếu Lâm Tự mới xây xong, chia làm thượng phương và hạ phương, tổng cộng có 12 sân vườn, phía sau là núi, bên cạnh là dòng nước, vô cùng thơ mộng. Những tu sĩ quyết tâm chuyên tu đều nghe danh mà đến, tập trung tại Thiếu Lâm Tự đi theo Bạt Đà tu hành. Bạt Đà từng nói với đệ tử: “Tịnh xá Thiếu Lâm ở nơi này, có thần linh đặc biệt bảo vệ. Sau khi xây chùa xong, sẽ không bị hủy diệt”.

Bạt Đà cùng với hai vị tu sĩ khác đến từ Thiên Trúc là Lặc Na Ma Đề (Ratnamati) và Bồ Đề Lưu Chi (bodhiruci) chủ trì công việc dịch kinh của Thiếu Lâm Tự. Một mặt Bạt Đà dạy các đệ tử ngồi thiền, một mặt lại biên soạn ý nghĩa Kinh Phật từ tiếng Phạn ra tiếng Hán, để cho mọi người học tập.

Năm Thái Hòa thứ 20, ba tu sĩ gồm có Bạt Đà, Lặc Na Ma Đề và Bồ Đề Lưu Chi mở pháp hội tại nơi dịch kinh, số tín chúng đến nghe pháp lên đến ngàn người. Trong lúc Bạt Đà đang dịch kinh thuyết pháp, trên đỉnh Ngũ Nhũ hiện ra năm đám mây có hình bông hoa sen, rồi ngay lập tức nổi lên một cơn gió mát kèm theo một cơn mưa nhỏ, giống như trời ban cam lồ. Tăng chúng có mặt tại đó vì nghe Bạt Đà thuyết pháp mà sinh tâm hoan hỷ, thế giới tâm linh cũng giống như trận mưa cam lồ trút xuống mọi nơi. Vì thế mọi người gọi nơi mà Bạt Đà dịch kinh thuyết pháp là “Cam Lồ Đài”.

Bạt Đà đa tài đa nghệ, rất giỏi vẽ tranh đồ họa, ông vẽ ra hết toàn bộ những gì nhìn thấy được ở đế quốc Đông La Mã mà ông đã đi du lịch vào những năm trước, nghe nói được lưu truyền cho đến những năm cuối của nhà Đường. Trước khi ông viên tịch, đã tự tay vẽ hình ảnh của thần thú lên trên cánh cửa phòng.

Hoàng đế của Bắc Ngụy đích thân đi lên pháp tọa tuyên giảng kinh Phật cho chúng tăng và thần dân, và còn đích thân cạo đầu và tặng áo tăng sĩ cho những người có ý nguyện xuất gia. Khi đó có ba ngàn tăng sĩ ngoại quốc từ Tây Vực đến Lạc Dương, hoàng đế ra lệnh xây dựng Vĩnh Minh Tự, đồng loạt xây hơn một ngàn mấy căn phòng tăng sĩ, số tăng ni xuất gia lên đến hai triệu người. Phong cách thờ phụng Phật của Bắc Ngụy vô cùng thịnh hành, trên lên đến đế vương, dưới xuống đến bá tánh, tài trợ xây chùa, đào hang đá ở khắp mọi nơi. Bởi vì toàn dân đều sùng bái Phật, cho nên phong tục quốc gia của Bắc Ngụy vô cùng trung thực, nhân hậu.

Đạt Ma đến từ phương Tây, dùng cây sậy vượt sông

Tuy rằng Bạt Đà là chủ trì đời thứ nhất của Thiếu Lâm Tự, thu nhận nhiều đệ tử, dạy dỗ được rất nhiều nhân tài. Nhưng Thiếu Lâm Tự lại được gọi là Thiền tông tổ đình, nguyên nhân được bắt nguồn từ Đạt Ma.

Đạt Ma là tam hoàng tử của vua Hương Chí nước Nam Thiên Trúc, ngài xuất gia để bảo hộ quốc gia, đi theo Bát Nhã Đa La học Phật Pháp. Bát Nhã Đa La là ông tổ thứ 27 của Thiền tông Ấn Độ, sau khi ngài đắc pháp, có đi khất thực hóa duyên đến Nam Ấn Độ. Hương Chí đại vương kính trọng Phật pháp, bố thí châu báu vô giá, cúng dường Bát Nhã Đa La.

Nhận thấy Tam hoàng tử Bồ Đề Đa La của vua Hương Chí có trí tuệ sáng suốt lại hữu duyên với Phật Pháp, Bát Nhã Đa La bèn nhận Bồ Đề Đa La làm đệ tử, và đổi tên Đa La thành “Đạt Ma” – mang ý nghĩa thông đạt vô lượng. Sau khi Đạt Ma xuất gia, trở thành ông tổ đời thứ 28 sau Phật Thích Ca.

(Chân dung sư tổ thiền tông Trung Quốc Bồ Đề Đạt Ma (Phạm vi công cộng)

Trước khi Đạt Ma đi đến Nam Lương, cao tăng Chí Công của nhà Lương phụng lệnh giám sát việc xây dựng Cao Tạo Tự. Một hôm, Chí Công nói với chủ trì Linh Quán rằng: “Có một vị bồ tát Đại Thừa đến từ Tây Thiên, sắp đi vào nước ta”. Sau đó ông nói một bài sấm ngữ: “Ngưỡng quán lưỡng thiên, đê yếu niệp câu. Cửu ô xạ tận, duy hữu nhất đầu. Chí tắc bất cửu, yếu giả tu đao. Phùng long bất trụ, quá thủy tắc đào”. (Tạm dịch: ngước nhìn hai cánh cửa, cúi lưng vò móc câu. Bắn hết chín mặt trời, còn mỗi một mặt trời. Đến đây vẫn chưa lâu, đã cắt đứt ân nghĩa. Gặp rồng mà không ở, sang sông liền ra đi). Chủ trì Linh Quán không hiểu ý nghĩa của bài sấm này, nên đã dùng giấy bút ghi chép lại, để làm minh chứng về sau.

Ngày 21 tháng 9 năm Phổ Thông thứ 8 của Nam Lương (năm 527), Đạt Ma vượt biển đến phương Đông, lên bờ tại Quảng Châu. Thứ sử Tiêu Ngang đích thân nghênh đón, báo cáo lại với Lương Võ Đế. Mùng 1 tháng 10, Đạt Ma đến kinh đô của nhà Lương tại Kiến Khang (nay thuộc Nam Kinh, Giang Tô). Lương Vũ Đế đích thân ra nghênh đón Đạt Ma vào đại điện, sau đó đích thân cúng dường.

Từ sau khi Lương Vũ Đế đăng cơ, ông đã cho xây dựng rất nhiều ngôi chùa, chép kinh Phật, làm tượng Phật, ông cho rằng như vậy là công đức lớn nhất. Không ngờ Đạt Ma lại nói rằng đó không phải là công đức thực sự. Lương Vũ Đế không hiểu được ý của Đạt Ma, trong lòng không vui liền quay lưng bỏ đi. Đạt Ma cũng biết rằng cơ duyên giữa hai người không hợp, liền bẻ một ngọn lau sậy, lênh đênh trôi qua sông, đi vào nước Ngụy.

Chủ trì Linh Quán trước đó ghi chép lại bài sấm ngữ, sau này mới hiểu ra rằng, thì ra “ngưỡng quán lưỡng thiên” mà Chí Công nói chính là ám chỉ Lương Vũ Đế. “Đê yếu niệp câu. Cửu ô xạ tận, duy hữu nhất đầu” nghĩa là Đạt Ma sẽ đến vào mùng 1 tháng 10. “Phùng long bất trụ, quá thủy tắc đào” là muốn nói Đạt Ma không làm hài lòng Lương Vũ Đế, liền vượt qua sông mà ra đi.

9 năm diện bích trên đỉnh Ngũ Nhũ, để lại bóng hình

Đạt Ma đến nước Ngụy, đi vào Tung Sơn. Tại Tung Sơn, Ngài ở trong một hang đá tự nhiên nằm trên đỉnh núi Ngũ Nhũ, một mình quay mặt vào tường tu hành suốt 9 năm.

Theo như “Thiếu Lâm Tự chí” có ghi chép, đỉnh núi Ngũ Nhũ nằm ở phía bắc của núi Thiếu Thất, năm đỉnh núi nối với nhau hơn mười dặm, nhìn từ phía xa trông giống như phượng hoàng giang đôi cánh ra. Tuy rằng đỉnh Ngũ Nhũ được hình thành tự nhiên, nhưng lại vô tình trở thành tượng trưng của năm tông phái thiền môn. Lại thấy đỉnh núi rất tròn, nhìn giống như chiếc mũ của tăng sĩ, vì vậy được cho rằng là thánh địa Phật môn.

Đạt Ma quay mặt vào vách đá 9 năm, bóng của Đạt Ma in lên bức tường trong hang động. Sau đó, hàng ngàn năm nay, hình ảnh quay mặt vào tường trong hang đá trở thành một huyền thoại được giới văn nghệ sĩ truyền miệng nhau. Có người nói đó là do ý chí tu hành của Đạt Ma, không sinh vọng niệm, kiên cố như sắt đá. Lại có người nói rằng dấu vết thiêng liêng trên bức tường đá chính là thể hiện trí tuệ của Đạt Ma.

“Thiếu Lâm Tự Chí” viết: “Lau sậy vượt qua sông, Chân Đán nói chân đế. Tâm không chuyển Pháp luân, nghĩa bất lập văn tự” (Thời xưa Ấn Độ gọi Trung Quốc là Chân Đán). Đại ý của câu này nghĩa là Đạt Ma vượt qua bên kia sông bằng một ngọn lau sậy, giảng dạy chân lý mà ngài chứng ngộ được tại Trung Quốc. Nhưng vì sứ mệnh của ngài không nằm ở việc chuyển bánh xe Pháp, vì vậy đưa ra quy định bất lập văn tự (không ghi chép lại từ ngữ hoặc kinh sách), để tránh quấy nhiễu đến Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế cứu độ chúng sinh của những đời sau này.

Khi Bát Nhã Đa La còn tại thế, từng tiên đoán rằng tương lai Đạt Ma chắc chắn sẽ kết duyên với Thiếu Lâm. Ngài nói: “Lộ hành khóa thủy phục phùng dương, độc tự tây tây ám độ giang. Nhật hạ khả liên song tượng mã, lưỡng chu nộn quế cửu xương xương”.

Trong bài sấm ngữ trên, câu “phục phùng dương” ám chỉ Lạc Dương. Lưỡng chu, tức là lưỡng mộc, hai chữ mộc tức là chữ “lâm” (rừng cây). Nộn quế có nghĩa là “Thiếu”. Bát Nhã Đa La đã tiên đoán được Đạt Ma sẽ đến Lạc Dương, cuối cùng thiền tông sẽ phát dương quang đại tại Thiếu Lâm. Sự tích Đạt Ma quay mặt vào tường, giống như một ánh ban mai rực rỡ, lan tỏa ra ánh sáng tuyệt đẹp thức tỉnh nhân gian đang mê say giữa bộn bề trần thế.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch