kỳ 2 đã đề cập đến việc Thương Hiệt là người tạo chữ Hán, đồng thời ông cũng là sử quan của Hiên Viên Hoàng Đế, cho nên một trong những chức năng của chữ Hán là dùng để ghi chép lịch sử…

  • Xem lại kỳ 1 2

Lịch sử Trung Quốc 5000 năm không gián đoạn và có hệ thống ghi chép hoàn bị, do đó bản thân chữ Hán đã chứa đựng lịch sử, cũng tức là nó có: ‘Dung lượng thông tin to lớn – Nội hàm phong phú uyên thâm’.

Trong kỳ này, chúng ta sẽ tìm hiểu một tính chất vô cùng độc đáo nữa của chữ Hán đó là: Hiệu quả tạo mã tối đa. Nhưng trước tiên sẽ so sánh một chút tính chất của chữ Hán với các ngôn ngữ khác.

So sánh tính chất giữa chữ Hán với ngôn ngữ khác

Các ngôn ngữ dùng bảng chữ cái La-tinh (trong đó Việt Nam) là dùng từng đơn vị chữ cái La-tinh để ghép thành chữ, từ chữ lại ghép thành từ. Những loại ngôn ngữ này có một đặc điểm là chỉ cần nói được, phát âm được là viết được. Ưu nhược điểm của những loại ngôn ngữ này chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích rõ hơn trong kỳ sau. 

Còn Hán tự là loại chữ được tạo ra từ những bộ thủ đặt hài hoà cân đối trong khung vuông, cho nên nó còn được gọi là ‘phương khối tự’ (方塊字: chữ viết trong khung vuông). Mỗi chữ có Âm và Ý tách biệt, nghĩa là phát âm và ý nghĩa của chữ không có quan hệ. 

Bộ thủ tổ hợp thành chữ, chữ tổ hợp thành từ, mà bộ thủ là chữ tượng hình hoặc ký hiệu, nên chữ Hán là chữ tượng hình hoặc là chữ có ký hiệu mang ý nghĩa. Khi một người nhìn vào chữ Hán họ chỉ thấy được phần Hình chứ không thấy được cách phát âm. 

Điều này tạo cho chữ Hán lợi thế gì? Chúng ta biết rằng cách thức não bộ ghi nhớ sự việc bằng hình ảnh tốt hơn bằng âm thanh. Ví như nói chữ Táo, trong đầu người ta không thể đánh vần kiểu như: ‘a o ao, tờ ao tao sắc táo’; mà là sẽ hiện lên hình ảnh quả táo xanh/đỏ bóng mướt tươi ngon. Chữ Hán cũng như vậy, chữ Hán là chữ tượng hình đồng thời nó có tính hợp lý của nó, cho nên khi nhìn vào sẽ có xu hướng ‘gần gũi’ hơn với cách ghi nhớ của bộ não.

Khi nói đến Táo, trong đầu người ta không thể đánh vần: ‘a o ao, tờ ao tao sắc táo’; mà là sẽ hiện lên hình ảnh quả táo xanh/đỏ bóng mướt tươi ngon… Ảnh: Pixabay.

Nói thêm một chút về việc ghi nhớ hình ảnh. Trước đây, tôi từng làm thiết kế tường chắn cho một công ty Nhật, họ dùng tiêu chuẩn thiết kế của Nhật, trong đó có rất nhiều Hán tự (Kanji 漢字). Nhưng điều kỳ lạ là đọc lại rất dễ hiểu, dễ hiểu ở chỗ là ngôn ngữ kỹ thuật viết để thực hành nên dễ hiểu, thứ hai là trong tiêu chuẩn dùng Hán tự để thể hiện những từ chuyên ngành chứ không phải Hiragana (Katakana là từ mượn tiếng nước ngoài thì không tính), nói cách khác, những từ nào có Hán tự thì ưu tiên dùng Hán tự.

Ví như trong từ chuyên ngành tôi học có từ Morido (もりど – 盛り土: ‘thịnh thổ’ tức đất đắp), trong tiêu chuẩn hay trong bản vẽ thiết kế họ không ghi bằng Hiragana là もりど mà phải dùng Hán tự ‘thịnh thổ’ – 盛り土. Lý do là Hán tự phản ánh chính xác được: từ đó có ý nghĩa gì, vượt qua được rào cản đồng âm. Nếu dùng もりど (morido) thì người đọc phải mất rất lâu mới nhận biết được, hơn nữa chữ もり dễ làm người ta liên tưởng đến chữ Sâm (森 もり: rừng rậm), còn chữ ど thì có thể đồng âm với chữ khác.

Do đó việc bạn nhìn chữ có Hán tự so với dùng chữ Hiragana để phiên âm rất giống với ví dụ ở trên về hình dung cách đánh vần: ‘a o ao, tờ ao tao sắc táo’ và một ‘quả táo xanh/đỏ bóng mướt tươi ngon’. Tiếng Trung cũng vậy, nếu dùng toàn pinyin thì không biết ‘ai là ai’ và ‘đâu vào đâu’ vì pinyin không giải quyết được vấn đề đồng âm khác nghĩa.

Có thể một số người không đồng ý với quan điểm của tôi, họ cho rằng chữ Hán khó học hơn ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Pháp v.v. Tôi công nhận điều đó, nhưng khó ở giai đoạn ban đầu, ai cũng cần thời gian để tạo nền tảng Hán tự. 

Thuận theo việc số lượng Hán tự càng ngày càng tăng, mọi người sẽ phát hiện rằng, việc học không còn khó như trước, vì số chữ thường dùng cũng tầm 2000 – 5000 đơn vị mà thôi, những ‘từ mới’ tiếp theo chỉ là ghép đi ghép lại từ các ‘chữ cũ’ đã biết, và càng học bạn sẽ càng phát hiện được tính hợp lý của chữ Hán. Trong khi đối với các ngôn ngữ khác, bạn phải học nguyên một bộ từ mới.

Hiệu quả tạo mã tối đa

Ghép Bộ thủ thành Chữ

Chữ Hán được lập thành theo sáu phép gọi là ‘Lục thư’ (1), nhưng ở đây không đi sâu vào ‘Lục thư’ mà chỉ phân tích một điều rất quan trọng chính là: tính hợp lý của chữ Hán, từ đó thấy được hiệu quả tạo mã tối đa.

Câu hỏi mà cả tôi và bạn sẽ gặp phải khi học chữ Hán là: Làm thế nào để nhớ mặt chữ.

Cách ghi nhớ của bộ não là dựa vào những liên kết, khi liên kết đủ nhiều và đủ mạnh thì nhớ rất lâu. Vậy thì để nhớ được tốt chữ Hán, ta phải tìm hiểu những sợi dây liên kết với chữ đó, nó phải ‘neo đủ chắc’ vào trí nhớ chứ không được lỏng lẻo, và tôi gọi công việc này là tìm được ‘tính hợp lý’ của chữ Hán.

Mỗi một bộ thủ đều có nghĩa, khi ghép vào chữ thì chữ đó cũng phải có chút gì đó liên quan đến nghĩa của bộ thủ. Ví như từ có bộ Thủ (手, 扌: tay) thì liên quan đến hoạt động của tay, bộ Túc (足, 龰) có liên quan đến hoạt động của chân, bộ Tâm (心, 忄, 㣺) có liên quan đến tâm tư con người, bộ Mộc (木) liên quan đến gỗ, vật liệu gỗ, bộ Thổ (土) liên quan đến đất, bộ Nữ (女) liên quan đến phụ nữ, tính tình đặc trưng của phụ nữ v.v… 

Ví dụ, làm sao để nhớ chữ Hoài (懷: nhớ) và chữ Hoại (壞: bại hoại, xấu xa)? Nhìn vào chữ Hoài (懷) và Hoại (壞) ta thấy phần bên trái là chữ Hoài (褱) chỉ âm. Nếu thêm bộ Tâm đứng (忄)sẽ thành chữ Hoài (nhớ); nếu thêm bộ Thổ (土) sẽ thành Hoại (bại hoại), bởi vì làm việc xấu sẽ bị trừng phạt, thậm chí bị ‘trở về cát bụi’. Cho nên chữ Hoại có bộ Thổ và chữ Hoài có bộ Tâm là điều hợp lý. 

Còn như chữ Liêm (廉: liêm khiết) và Liêm (簾: tấm rèm), thì nhớ như thế nào? 

Cả 2 chữ này đều có chữ Kiêm (兼: kiêm trong kiêm nhiệm) chỉ âm. Nếu thêm bộ Quảng (广: rộng) thành Liêm khiết, tức là người có tấm lòng rộng rãi “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ” (Trích “Nhạc Dương lâu ký” của Phạm Trọng Yêm), đồng thời kiêm nhiệm nhiều chức nhưng lại không lấy gì cho riêng mình. Đây gọi là Liêm. 

Nếu thêm bộ Trúc (竹) thì thành Liêm (cái rèm), ngày xưa rèm làm bằng trúc. Để nhớ được Liêm là rèm thì liên tưởng đến Thuỷ Liêm Động (động có nước chảy như rèm trước cửa động) trong ‘Tây Du Ký’.

Những chữ ví dụ trên đây là cách tạo chữ theo phép ‘hình – thanh’ (chiếm 80% số lượng chữ Hán), bản thân nó có tính hợp lý để chúng ta có thể nhớ lâu.

Còn với những chữ mà không được tạo theo phép ‘hình thanh’ thì làm sao để nhớ? Đến lúc này chúng ta phải vận dụng tư duy.

Tôi lấy ví dụ về chữ Giáo (教: dạy dỗ, giáo dục). Trong một bài viết trước đây, từ phân tích chiết tự chữ Giáo – 教 (trong Giáo dục) tác giả Thanh Ngọc đã chỉ ra ‘mục đích của giáo dục là dạy trẻ chữ hiếu’. Chữ Giáo – 教 bao gồm chữ Hiếu 孝 đặt bên cạnh bộ Phốc 攴 (tác động nhẹ), hàm ý rằng: bản chất của giáo dục là bắt đầu từ đạo Hiếu, sau đó tiếp tục tác động dẫn dắt trở thành người có đầy đủ phẩm chất tốt đẹp. Từ câu ‘mục đích của giáo dục là dạy trẻ chữ hiếu’, dạy một cách nhẹ nhàng thì ta nhớ được chữ Giáo. 

Hay như một chữ mà tôi rất thích là chữ Đức (德: đạo đức, phẩm đức). Chữ Đức (德) gồm bộ Xích (彳): ý chỉ những bước chân chậm rãi, thong thả, trường kỳ. Bộ Xích (彳) trong chữ Đức (德) có thể hiểu là: muốn tu dưỡng ‘đạo đức’ cần dùng thời gian để rèn luyện tu sửa bản thân, chậm rãi mà chắc chắn, đều đặn và trường kỳ.

Còn phần bên phải của chữ Đức có thể phân thành 4 chữ là ‘thập mục nhất tâm’ (十目一心). Ở đây tôi thấy có 2 cách giải thích.

Thứ nhất là coi chữ Nhất (一) như phần chia tách, phần trên là ‘thập mục’ (十目) được lý giải là những con mắt khắp mười phương thế giới đang nhìn vào. Nhìn vào cái gì? Nhìn vào cái Tâm (心) của con người, xem con người tu dưỡng tâm tính đạo đức như thế nào.

Cách giải thích thứ hai là: cá nhân tôi giữ nguyên cách giải thích ‘thập mục’ như trên, còn chữ Nhất, tôi không chia ra mà gộp thành ‘nhất tâm’ (一心) tức ‘một lòng một dạ’ tu dưỡng đạo đức, và những hành vi của mình đều được những cặp mắt khắp thế giới mười phương đang chăm chú nhìn vào. 

Dù theo cách giải thích thế nào thì nội hàm chữ Đức vẫn rất hay, là quá trình trường kỳ ‘một lòng một dạ’ nâng cao tu dưỡng đạo đức dưới sự soi xét từ những cặp mắt của các sinh mệnh cao tầng trong thế giới mười phương.

Những chữ ở trên, dù là chữ mang nghĩa tốt hay xấu đều có tác dụng khuyến thiện, tránh ác, từ đó nâng cao đạo đức, cho nên học chữ Hán cũng là học cách làm người. 

Chữ Hán có nội hàm thâm sâu, không chỉ dừng lại ở việc truyền tải giá trị đạo đức, mà còn phản ánh được nhân tố tu luyện trong đó. 

Tác giả Hiểu Mai, người viết bài ‘Những điềm báo của chữ Hán giản thể đã trở thành sự thực, chuẩn xác một cách đáng sợ!‘ đã từng có chia sẻ về chữ Pháp (法: pháp, pháp tắc, nguyên lý vũ trụ) rất có ý vị.

Tại sao chữ Pháp (法) lại có ‘3 chấm thuỷ’ (氵), chứ không phải ‘2 chấm băng’ (冫), thì tác giả Hiểu Mai đã nhìn dưới góc độ tu luyện như sau: 

3 chấm thuỷ tượng trưng cho đặc tính của vũ trụ là Chân – Thiện – Nhẫn; còn chữ Khứ (去) tác giả Hiểu Mai phân làm 2, một là chữ Thập (十) ở trên tượng trưng cho thế giới mười phương, còn phần dưới là chữ Tư (厶) thì giống như một phần của động tác đả toạ thiền định. Cả chữ Pháp (法) tác giả Hiểu Mai giải thích rằng: dựa vào đả toạ, tu xuất khỏi thế giới mười phương để đồng hoá với đặc tính vũ trụ. 

Cá nhân tôi thì có một góc nhìn khác, tôi đồng ý với cách nhìn nhận ‘3 chấm thuỷ’ tượng trưng cho đặc tính vũ trụ, còn phần sau tôi vẫn giữ nguyên chữ Khứ (去). Khứ có nghĩa là đi, vứt bỏ, bỏ đi. Bỏ đi thứ gì? Bỏ đi: danh lợi tình, chấp trước… mới có thể phản bổn quy chân, đồng hoá với đặc tính vũ trụ.

Cách nói hàm ý, ghép chữ, chơi chữ, câu đố

Vì chữ Hán là ghép từ bộ thủ hoặc ký tự, cho nên dựa vào cách tạo mã này xuất hiện một số điều rất thú vị về cách nói hàm ý, ghép chữ, chơi chữ và câu đố. 

Cách nói hàm ý, ghép chữ

Trong Tiếu đàm phong vân phần 1: Đông Chu liệt quốc, khi nói về những trận gió thay đổi cục diện trong thiên hạ, Giáo sư Chương Thiên Lượng có kể về một trận gió giúp Minh Thành Tổ – Chu Đệ lên ngôi vua, mà trong đó có đề cập đến một cách nói hàm ý rất thú vị.

Chuyện xảy ra sau khi Chu Nguyên Chương xưng đế và định đô ở Nam Kinh. Vào năm Hồng Vũ thứ 28, Chu Nguyên Chương đã thỉnh mời một số tăng nhân tới kinh thành dạy cho các hoàng tử học tập kinh Phật, trong số các tăng nhân được mời đó có vị hoà thượng pháp danh là Đạo Diễn, tên tục gia là Diêu Quảng Hiếu; còn hoàng tử thứ tư của Chu Nguyên Chương là Chu Đệ, khi đó được sắc phong ở Bắc Kinh nên còn gọi là Yên Vương (Bắc Kinh nằm ở khu vực nước Yên trước đây). 

Khi vừa nhìn thấy Yên Vương, Hoà thượng Đạo Diễn đã nhận thấy tướng mạo của vị hoàng tử này không giống như những người bình thường. Trong ‘Minh sử’ chép rằng: Yên Vương ‘dung mạo kỳ vĩ với bộ râu đẹp’, hơn nữa ngoại hình lại vô cùng cao lớn khôi ngô. Ông cũng là một viên tướng tài hiếm có của triều Minh, đánh trận vô cùng lợi hại.

Tranh vẽ Minh Thành Tổ – Chu Đệ, Vĩnh Lạc đại điển (sách bìa vàng) và chuông Vĩnh Lạc. Ảnh chụp màn hình đoạn đề-mô Tiếu đàm phong vân phần 5: Đại Minh vương triều.

Trong ‘Minh sử kỷ sự bản mạt – quyển 16’ ghi lại lời Đạo Diễn nói với Yên Vương như sau: “Nếu đại vương cho phép thần được theo hầu, thần sẽ dâng một chiếc mũ trắng cho đại vương đội”. Cái ‘mũ màu trắng’ tức chữ ‘bạch’ (白), đội lên quân vương tức chữ ‘vương’ (王) sẽ tạo thành chữ ‘hoàng’ (皇). Ý nói rằng, nếu như Chu Đệ cho Đạo Diễn theo hầu, Đạo Diễn chắc chắn sẽ giúp Chu Đệ trở thành Hoàng đế. Ở đây Đạo Diễn không dùng cách nói trực tiếp mà là dựa vào ghép các thành phần chữ Hán để nói lên ý nguyện của mình. 

Quả thật dưới sự giúp đỡ của Đạo Diễn, Chu Đệ đã lên ngôi Hoàng đế mở ra thời kỳ ‘Vĩnh Lạc chi trị’.

Như đã nói ở trước, chữ Hán được ghép thành nhiều bộ phận, có nội hàm và tính hợp lý. Nếu viết chữ bình thường kiểu Lệ thư, hay Khải thư… thì một chữ là một chữ, nhưng nếu viết bằng thư pháp lại là một chuyện khác.

Trong lịch sử có câu chuyện Vua Khang Hy viết chữ Phúc (福) bằng thư pháp (2). Chữ Phúc của Vua Khang Hy có điều đặc biệt chính là: nếu nhìn nhanh thì thấy một chữ Phúc, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy Ngũ Phúc.

Ngự bút chữ Phúc (福) của Vua Khang Hy và phần giải thích chữ Phúc gồm: Đa, Phúc, Tử, Tài, Điền, Thọ. Ảnh ghép từ nhiều nguồn.

Nhìn vào chữ Phúc (福) của Vua Khang Hy, góc trên bên phải (chỗ chữ Nhất 一 và Khẩu 口) giống chữ Đa (多). Góc dưới bên phải thì giống chữ Điền (田). Còn cả phần bên phải (畐) được viết giống chữ Thọ (壽).

Phần bên trái, tức chữ Thị (礻) lại vừa giống chữ Tử (子), vừa giống chữ Tài (才). 

Tựu trung lại, chữ Phúc của Vua Khang Hy vừa khéo lại mang đủ Ngũ Phúc, không chỉ là ‘đơn’ Ngũ Phúc, mà là ‘đa’ Ngũ Phúc, chính là: đa Điền, đa Tử, đa Tài, đa Thọ, đa Phúc (nhiều ruộng, nhiều con, nhiều tài, nhiều thọ, nhiều phúc).

Chơi chữ và câu đố

Không phải chỉ Trung Quốc biết chơi chữ ghép chữ, mà trong lịch sử Việt Nam cũng có giai thoại độc đáo về cách chơi chữ của ông cha ta ngày xưa. 

Câu chuyện có tính phổ biến và ‘chữ được đố’ tương đối phổ thông là câu chuyện về Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam – Nguyễn Hiền.

Năm 13 tuổi, Nguyễn Hiền đỗ Trạng nguyên. Tại lễ triều kiến các vị tân khoa, vua Trần Thái Tông thấy Trạng quá nhỏ, bèn cho về quê, hẹn ba năm sau sẽ cho vào triều phong quan. Được ít lâu, sứ thần Mông Cổ đem một bài thơ sang thách giải nghĩa, nội dung thi phẩm là:

Lưỡng nhật bình đầu nhật
Tứ sơn điên đảo sơn
Nhị vương tranh nhất quốc
Tứ khẩu tung hoành gian.

Vua Trần hỏi quần thần thì không ai giải được, phải sai hai quan văn võ đến nhà Nguyễn Hiền mời vào triều để hỏi.

Sau đó Nguyễn Hiền mới giải thích rằng: “Câu thứ nhất nghĩa là chữ ‘Nhật’ (日), ngược xuôi bằng đầu nhau. Câu thứ hai là bốn chữ ‘Sơn’ (山), ngược xuôi cũng là chữ Sơn cả. Câu thứ ba hai chữ ‘Vương’ (王), tranh nhau ở trong một nước. Câu thứ tư là bốn chữ ‘Khẩu’ (口), ngang dọc đều là khẩu cả. Tóm lại chỉ là một chữ ‘Điền’ (田)”.

Trong câu chuyện này không phải là phân tích một chữ Điền như thế nào, mà là các chữ khác xoay, xếp chồng lên nhau tạo thành chữ Điền. Hai chữ Nhật xếp cạnh nhau ra chữ Điền, bốn chữ Sơn đan xen theo 4 góc, hai chữ Vương chồng lên rồi xoay 90 độ, hay bốn chữ Khẩu đặt ở bốn góc cũng ra chữ Điền.

Chữ Hán không chỉ tách/nhập thành chữ, mà còn xếp chồng hay đan xen dựa vào đặc tính hình học cũng tạo ra chữ. Do đó ‘hiệu quả tạo mã’ là một điểm vô cùng độc đáo của chữ Hán.

Đây có lẽ là một nguyên nhân khiến giới ‘tinh anh’ rất thích chữ Hán. Ở kỳ 2, tôi đã giới thiệu về group ‘Đại Việt Hán văn hội’ với thành phần là giới ‘tinh anh’ của người Việt, nhân tiện nói về hiệu quả tạo mã của chữ Hán, tôi giới thiệu một bài viết có nội dung ‘ghép chữ’ của nhóm này.

Vào mùng 7 Tết (18/2), Group ‘Đại Việt Hán văn hội’ có đăng bài viết về câu đố dạng ‘chiết tự’ chữ Hán như sau: 

1. Chữ đâu ba lớp ba tầng
Soi bên mặt nước một vầng trăng xưa

2. Sức nào so được sức này
Quanh năm suốt tháng đi cày ruộng sâu

3. Chữ đâu óng ánh lạ thường
Vầng trăng buổi tối, vầng dương ban ngày

4. Áo quần chải chuốt, lượt là
Mang theo một miệng đi ra ngoài đồng

Ở đây tạm giải câu thứ nhất, còn ba câu còn lại, nếu quý độc giả quan tâm và hứng thú thì giải đáp ở phần bình luận bên dưới, còn đáp án sẽ được chúng tôi đưa ra trong kỳ tiếp theo.

Đáp án câu thứ nhất là chữ: Hồ (湖: hồ nước). Chữ Hồ gồm bộ Thuỷ ( 氵: nước), Cổ (古: cũ, xưa) và Nguyệt (月: trăng). 

Ghép Chữ thành Từ

Hiệu quả tạo mã từ bộ thủ/ký tự tạo thành chữ đã được phân tích ở trên, còn từ chữ tạo thành từ đạt hiệu quả như thế nào, liệu có tính hợp lý, hay dễ nhớ không?

Ở mục trên tôi đã phân tích vì sao càng học chữ Hán bạn sẽ càng thấy nó không khó như trước. Thuận theo việc số lượng Hán tự càng ngày càng tăng, vốn từ của bạn sẽ càng ngày càng nhiều. Nếu thêm từ mới, thì ngoài từ mượn được phiên âm ra, thì các từ là được ghép từ những chữ đã biết. Bạn sẽ phát hiện ra những từ chuyên ngành sẽ có tính ‘thân thuộc’ vì được ghép từ những chữ đã biết, còn từ vựng mới của các ngôn ngữ khác thì bạn phải học lại.

Lấy ví dụ từ chuyên ngành về y dược là vắc-xin, tiếng Anh là vaccine, tiếng Trung là ‘dịch miêu’ (疫苗). Dịch – 疫 có nghĩa là ôn dịch, dịch bệnh; còn Miêu – 苗 là lúa non. Vắc-xin là chế phẩm từ dịch bệnh mà đã làm suy yếu đi, sau khi tiêm vào, kháng thể tiêu diệt bệnh từ đó nhận dạng được dịch bệnh này và có sức đề kháng. Do đó mọi người thấy vắc-xin trong tiếng Trung là ‘Dịch miêu’ hợp lý về mặt suy luận. 

Trong chuyên ngành xây dựng, xi-măng tiếng Anh là cement, còn tiếng Trung là ‘thuỷ nê’ (水泥). Thuỷ (水) là nước, Nê (泥) là bùn, ‘thuỷ nê’ là bùn nước. Khi trộn xi-măng với nước sẽ tạo ra hỗn hợp sền sệt giống như bùn nước.

Trong chuyên ngành kinh tế, từ lạm phát tiếng Anh là inflation, còn tiếng Trung là ‘thông trướng’ (通脹). Thông (通) nghĩa là thông suốt, không tắc nghẽn; còn Trướng (脹) có nghĩa là phình to, dãn ra; ‘thông trướng’ nghĩa là phình to không giới hạn, đây là tính chất của lạm phát (giá cả tăng một cách không thể kiểm soát).

Những từ khác hay thành ngữ tiếng Trung cũng có tính hợp lý như thế, do đó dù tạo mã thành chữ hay thành từ, chúng ta đều thấy được hiệu quả rõ rệt mà chữ Hán mang lại. 

Ở kỳ trước đã nói về chữ Hán có lượng thông tin phong phú bậc nhất, còn kỳ này đã làm rõ hiệu quả tạo mã tuyệt vời của chữ Hán. Vậy nên trong Chính luận thiên hạ đăng ngày 21/3, Giáo sư Chương Thiên Lượng có nói rằng: “khi nghiên cứu ngôn ngữ, thì lượng thông tin của Hán ngữ Trung Hoa là phong phú nhất, còn hiệu quả tạo mã là tối cao” cũng là có căn cứ.

Còn một mục rất đáng để phân tích là Hán tự có ‘tự hình vượt biên giới’, chúng tôi sẽ hẹn chia sẻ cùng quý độc giả ở kỳ tiếp theo. 

Mạn Vũ

Chú thích:

(1) Lục thư: chỉ 6 phép lập thành chữ Hán gồm: tượng hình, chỉ sự, hội ý, giả tá, chuyển chú và hình thanh.

(2) Vua Khang Hy 8 tuổi đăng cơ, 9 tuổi thì mẹ mất, sau đó ông được tổ mẫu Hiếu Trang Hoàng Thái Hậu nuôi dưỡng trưởng thành.

Sau khi Khang Hy trưởng thành, có lần khi Hiếu Trang Hoàng Thái Hậu lâm bệnh nặng, Khang Hy đã dùng bút lông viết chữ Phúc này bằng tất cả hiếu tâm của mình, với ý là ‘hồng vận đương đầu, phúc tinh cao chiếu’.

Kỳ diệu thay, sức khỏe của Hiếu Trang Hoàng Thái Hậu đã phục hồi mau chóng. Sau này, chữ Phúc của Vua Khang Hy được khắc lên bia đá để cầu phúc.