‘Tiếu đàm phong vân’ là loạt bài hay và chất lượng. Hay vì lịch sử được giảng ra rất sinh động, có video trực quan, có người kể chuyện thuyết minh trực tiếp… Chất lượng vì đây là kết tinh mười mấy năm chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả – Giáo sư Chương Thiên Lượng…

‘Tiếu đàm phong vân’ là loạt bài lịch sử quy mô lớn đầu tiên của Giáo sư Chương Thiên Lượng gồm 5 phần:

  • Phần 1: Đông Chu liệt quốc 
  • Phần 2: Tần Hoàng Hán Vũ 
  • Phần 3: Tuỳ Đường thịnh thế
  • Phần 4: Lưỡng Tống phồn hoa
  • Phần 5: Đại Minh vương triều

Trong đó phần 1 đã được dịch với tên gọi Phong vân mạn đàm, các phần còn lại được công bố dưới hình thức bản quyền thương mại (đĩa video) nên không được dịch trừ khi có sự đồng ý của tác giả, còn sách ‘Tiếu đàm phong vân’ thì sẽ được Giáo sư Chương Thiên Lượng biên soạn lại dựa trên video và dự kiến ra mắt cuối năm nay.

Đây là loạt bài hay và chất lượng. Hay vì lịch sử được giảng ra rất sinh động, có video trực quan, có người kể chuyện thuyết minh trực tiếp… Chất lượng vì đây là kết tinh mười mấy năm chiêm nghiệm sâu sắc của Giáo sư Chương Thiên Lượng. Phần 1 ra đời vào năm 2011, hết phần 5 là năm 2019, nhưng theo lời kể của Giáo sư Chương, loạt bài này được chuẩn bị từ năm 2009, vậy là tác giả phải mất tròn 10 năm để lên ý tưởng và thực hiện loạt bài này. Trong đó thể hiện góc nhìn sâu sắc của Giáo sư Chương về lịch sử, mọi người đọc loạt ‘Phong vân mạn đàm’ sẽ cảm nhận được điều ấy. 

Vậy thì phần 1 đã được dịch ra với tên ‘Phong vân mạn đàm’, tại sao lại có loạt bài ‘Kết tinh Tiếu đàm phong vân’? Bởi vì người viết muốn hệ thống hoá những ‘khái niệm’, điển tích điển cố và ‘góc nhìn’ trong đó để tiện tham khảo và tra cứu

Tại sao những ‘khái niệm’ lại quan trọng như vậy? Giống như xây móng cho ngôi nhà, móng càng vững thì có thể xây nhà càng cao. Những ‘khái niệm’ này giống như móng của ngôi nhà vậy, nếu mọi người nắm vững khái niệm thì khi đọc những tài liệu khác sẽ không bị vướng mắc vì đã có nền tảng nhất định rồi. Đây không chỉ nói về đọc lịch sử hay văn hoá, mà những môn/lĩnh vực khác cũng tương tự như vậy, phải nắm chắc khái niệm thì mới ‘học’ và ‘hành’ tốt được. 

Ban đầu người viết định đặt ‘Tinh hoa Tiếu đàm phong vân’ nhưng chữ ‘tinh hoa’ lại không bao quát được những ‘khái niệm’, nó chỉ bao quát được ‘góc nhìn’ hoặc những tổng hợp/tổng kết mà thôi. Còn ‘kết tinh’ bao hàm được cả ‘khái niệm’ và ‘góc nhìn’. Bởi vì ‘khái niệm’ được xem như phần tử – element để xây dựng nền móng, đây được gọi là ‘kết’; Còn chữ ‘tinh’ trong văn cảnh này là tinh hoa, tức là bao hàm được ‘góc nhìn’. Vậy nên dùng từ ‘kết tinh’ thích hợp hơn.

Vì sao gọi là ‘Tiếu đàm phong vân‘?

Tam Quốc Diễn Nghĩa. (Ảnh ghép minh hoạ)

Vậy tại sao loạt bài lịch sử này của Giáo sư Chương lại có tên là ‘Tiếu đàm phong vân’? ‘Tiếu đàm’ được lấy trong bài ‘Lâm giang tiên’ của Dương Thận – bài thơ mở đầu trong tiểu thuyết ‘Tam quốc diễn nghĩa’: 

Nguyên tác:

“Cổn cổn Trường Giang đông thệ thuỷ
Lãng hoa đào tận anh hùng.
Thị phi thành bại chuyển đầu không.
Thanh sơn y cựu tại
Kỷ độ tịch dương hồng.
Bạch phát ngư tiều giang chử thượng
Quán khán thu nguyệt xuân phong.
Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.
Cổ kim đa thiểu sự
Đô phó tiếu đàm trung”.

Dịch thơ:

“Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông
Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng.
Thịnh suy, thành bại theo dòng nước
Sừng sững cơ đồ bỗng tay không.
Núi xanh nguyên vẹn cũ
Bao độ ánh chiều hồng.
Bạn ngư tiều dãi dầu trên bãi
Vốn đã quen gió mát trăng trong.
Một vò rượu nếp vui bạn cũ
Chuyện đời tan trong chén rượu nồng”.

Lịch sử ghi dấu với biết bao anh hùng phong công vĩ nghiệp, oanh oanh liệt liệt nhưng bây giờ họ đã là người thiên cổ, ‘sừng sững cơ đồ bỗng tay không’… Nhưng trong vô thường lại thấy được điều vĩnh hằng là ‘Núi xanh nguyên vẹn cũ / Bao độ ánh chiều hồng’. Là nhà sử học, Giáo sư Chương đồng ý với tâm thái nhìn nhận lịch sử như vậy, chính là: Cười nói luận đàm thanh tao. 

Còn ‘phong vân’ là bắt nguồn từ một câu trong Kinh Dịch: “Vân tùng long, phong tùng hổ” nghĩa là: mây theo rồng, gió theo hổ. Trong loạt bài, Giáo sư Chương giảng rất nhiều những câu chuyện về ‘long tranh hổ đấu’. 

Trong suốt loạt bài, Giáo sư Chương thể hiện tâm thái đối đãi với lịch sử là ‘tiếu đàm’ và kể những chuyện ‘phong vân’ tức ‘long tranh hổ đấu’, cho nên nó mới có tên là ‘Tiếu đàm phong vân’. 

Lại nói về cụm từ “vân tùng long” (mây theo rồng), ở đây có chữ Vân và Long. Điều này gợi cho chúng ta nhớ đến một trong Ngũ hổ tướng của Lưu Bị là Triệu Vân tự Tử Long. Điều này liên quan đến cách đặt tên thời cổ đại mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong phần sau. 

Chuyện ‘phong vân’ ngoài mang nghĩa ‘long tranh hổ đấu’ còn có một tầng nghĩa nữa khá sâu sắc. Nó không phải như chuyện ‘gió thoảng mây bay’ mà là ‘gió mây khó đoán’. Trong lịch sử có những trận gió kỳ lạ quyết định cục diện quân sự trong thiên hạ. Trong phần 1 của loạt bài với tựa đề ‘Đông Chu liệt quốc’, Giáo sư Chương có đề cập tới ít nhất 4 trận gió đã làm thay đổi cục diện lịch sử. 

Trận gió thứ nhất giúp Đông Ngô thiêu trụi toàn bộ chiến thuyền của Tào Tháo trong trận Xích Bích, từ đó mở ra thế cục ‘chân vạc’ thời Tam quốc. 

Trận gió thứ hai giúp Lưu Bang thoát khỏi sự truy sát của Hạng Vũ trong Hán – Sở tranh hùng, từ đó Lưu Bang mới lập nên cơ đồ nhà Hán 400 năm. 

Trận gió thứ ba giúp Chu Nguyên Chương đánh bại Trần Hữu Lượng để lập ra triều Minh.

Trận gió thứ tư giúp Chu Đệ (Minh Thành Tổ) lên ngôi Hoàng đế, mở ra thời kỳ ‘Vĩnh Lạc chi trị’. 

Xem thêm: Phong vân mạn đàm (Kỳ 2): Long tranh hổ đấu, thắng thua khó đoán

Miếu toán – quốc gia là trọng đại

Khi kể câu chuyện về trận gió thứ nhất mở ra thế cục ‘chân vạc’ thời Tam quốc, Giáo sư Chương thuận tiện đề cập đến một khái niệm là ‘miếu toán’. 

Mùa đông năm Kiến An thứ 13 (208 SCN), Tào Tháo đem binh tiến đánh Giang Đông, nếu thắng, thì coi như ‘thiên hạ quy tâm’, bởi vì trước đó từ sông Trường Giang trở về bắc (tức một nửa Trung Nguyên) đã về tay Tào thừa tướng rồi. 

Lúc đó Tào Tháo gửi một bức thư chỉ vỏn vẹn 30 chữ cho Tôn Quyền nhưng đã thể hiện trình độ chính trị và văn học của ông, Giáo sư Chương đánh giá.

Nội dung bức thư: “Gần đây ta phụng mệnh Thiên tử thảo phạt kẻ phản nghịch có tội, quân kỳ chỉ hướng phía nam, Lưu Tông đã hàng phục. Nay ta thống lĩnh 80 vạn thủy quân, sắp cùng tướng quân săn bắn một trận ở đất Ngô” (1).

Bức thư có 3 tầng ý nghĩa. Tầng ý thứ nhất, “Gần đây, ta phụng mệnh Thiên tử thảo phạt những kẻ có tội”, Tào Tháo nói vâng mệnh Thiên tử đến thảo phạt, tức là Tào Tháo có lý do chính đáng về mặt chính trị. 

Tầng ý thứ hai, Tào Tháo đem 80 vạn thuỷ quân đến đánh Đông Ngô, trong khi quân bản địa chỉ ước chừng 3-5 vạn, cho nên Tào Tháo muốn nói ông có ưu thế về mặt quân sự. 

Tầng ý thứ ba, Tào Tháo muốn nói dù ông chưa đánh mà Lưu Tông đã hàng, cho nên Tôn Quyền hãy lấy đó làm gương và hàng phục. 

Nhưng đô đốc Chu Du lại không cho là vậy. Chu Du nói: 

“Điểm thứ nhất, Tào Tháo không có ưu thế về mặt chính trị. Bởi vì ông ta ‘mượn danh Thừa tướng nhà Hán, nhưng kỳ thực ông ta lại là giặc’, ngoài miệng nói là phụng mệnh Thiên tử, nhưng chẳng qua chỉ là bóp méo xuyên tạc ý tứ của Thiên tử mà thôi. 

Điểm thứ hai, Tào Tháo cũng không có ưu thế về quân sự. Tại sao? Bởi vì quân đội của Tào Tháo đều là binh sĩ phương bắc, vốn không quen với việc đánh nhau trên sông nước. Tuy người rất nhiều nhưng họ không lên thuyền được, hễ lên thuyền liền choáng váng buồn nôn, căn bản không có bất cứ khả năng tác chiến gì.

Điểm thứ ba, đó là vẫn còn Mã Siêu và Hàn Toại đang ở hậu phương của Tào Tháo, không phải ‘không đánh mà tự nhiên hàng’ như Lưu Tông. Hơn nữa quân đội Tào Tháo mang theo là quân bộ, có rất nhiều chiến mã, mùa đông không có cỏ khô cho ngựa ăn, hậu cần không đảm bảo được tốt”.

Trong Binh pháp Tôn Tử gọi lời của Chu Du là ‘miếu toán’. Miếu’ là tông miếu – nơi thờ tổ tông của vua chúa; ‘toán’ là tính toán, cân nhắc, suy tính. Trong ‘Tả truyện’ viết: “Việc lớn của đất nước, duy có 2 điều là ‘tế tự’ và ‘chiến tranh'”. Trước khi tế tự và chiến tranh cần phải đến tông miếu để cân nhắc suy tính, đây là khái niệm ‘miếu toán’. Trong chương thứ nhất Thiên kế – sách Binh pháp Tôn Tử chỉ ra rằng, phải đo lường tính toán 7 tham số trước khi chiến tranh:

  • Chủ bên nào có đạo
  • Tướng bên nào giỏi
  • Thiên thời, địa lợi bên nào chiếm ưu thế
  • Pháp lệnh bên nào nghiêm minh
  • Binh bên nào mạnh
  • Sĩ bên nào huấn luyện tốt
  • Thưởng phạt bên nào công minh

Chu Du đã tính 3 trong 7 tham số trên. Thứ nhất là ‘chủ bên nào có đạo’. Bên Tào Tháo đem quân đến đánh, còn bên Đông Ngô là phòng vệ chính đáng nên Đông Ngô chiếm được đạo lý. 

Thứ hai là ‘binh bên nào mạnh’. Dù Tào Tháo đem hơn 80 vạn quân nhưng chưa hề qua huấn luyện thuỷ chiến, còn phía Đông Ngô là 3-5 vạn quân tinh nhuệ, cho nên Chu Du nói phía Đông Ngô mạnh hơn.

Thứ ba là ‘Thiên thời, địa lợi bên nào chiếm ưu thế’. Bên Tào Tháo dẫn quân đi đánh trong mùa đông, không có cỏ khô cho ngựa ăn, hậu cần không đảm bảo. Thêm vào đó, Hàn Toại và Mã Siêu vẫn lăm le thành trì của Tào Tháo ở hậu phương. Cho nên về mặt này Chu Du cho rằng Đông Ngô chiếm ưu thế. 

Tào Tháo và Chu Du trong trận chiến Xích Bích. (Ảnh: cafef.vn)

Làm vua – xưng hiệu có nguyên do

Giáo sư Chương nghiên cứu: trong quá khứ, Hoàng đế có 3 cách xưng hô. Thứ nhất là ‘miếu hiệu’, thứ hai là ‘thuỵ hiệu’ và thứ ba là ‘niên hiệu’. 

‘Miếu hiệu’ là sau khi Hoàng đế băng hà cần có bài vị đặt trong tông miếu. Trong tông miếu cần đặt cho vị ấy một cái tên, tên này chính là ‘miếu hiệu’. Miếu là nơi thờ tổ tông, cho nên ‘miếu hiệu’ là gì gì đó ‘Tổ’, gì gì đó ‘Tông’. 

Thông thường kiến công, lập được công lao rất lớn gọi là ‘Tổ’, ‘miếu hiệu’ Thái Tổ là chỉ Hoàng đế khai quốc; còn kiến đức, lập đức gọi là ‘Tông’. Vậy nên nghe gì gì đó ‘Tổ’, gì gì đó ‘Tông’ thì thuộc về ‘miếu hiệu’. 

Một cách xưng hô khác nữa gọi là ‘thuỵ hiệu’. ‘Thuỵ hiệu’ là sau khi Hoàng đế mất, tổng kết lại hết thảy hành vi một đời của ông rồi đặt tên, đây gọi là ‘thuỵ hiệu’. Ví như: Hán Vũ Đế, chữ ‘Vũ’ là ‘thuỵ hiệu’, bởi vì ông khai mở đất đai, cho nên gọi là ‘Vũ Đế’. 

Ở Trung Quốc trước thời nhà Đường, khi xưng hô Hoàng đế đều dùng ‘thuỵ hiệu’, hễ nghe gì gì ‘Đế’ là ‘thuỵ hiệu’. Ví như Hán Vũ Đế, Nguỵ Vũ Đế, Nguỵ Văn Đế v.v. 

Đến thời Đường, người ta thường dùng ‘miếu hiệu’ để gọi tên Hoàng đế, ví như nói Đường Cao Tổ, Đường Thái Tông, Đường Huyền Tông, Tống Thái Tổ, Tống Nhân Tông v.v.

Đường Thái Tông Lý Thế Dân. (Nguồn: Wikipedia)

Còn ‘niên hiệu’ là từ thời Hán Vũ Đế đã bắt đầu lưu lại một truyền thống, chính là mỗi một vị Hoàng đế lúc đăng cơ thì cần phải thay đổi niên hiệu. Niên hiệu đầu tiên của Trung Quốc là Kiến Nguyên thời Hán Vũ Đế. 

Một số Hoàng đế có rất nhiều niên hiệu, ví như Đường Huyền Tông có hai niên hiệu, một là Khai Nguyên, hai là Thiên Bảo. Từ số năm mỗi niên hiệu có thể tính ra vị ấy làm Hoàng đế bao nhiêu năm.

Trước triều đại nhà Minh, Hoàng đế có thể có rất nhiều niên hiệu, nhưng đến giữa và sau thời nhà Minh, đặc biệt là triều Thanh, trên cơ bản một Hoàng đế chỉ có một niên hiệu. Một khi lên ngôi và chọn niên hiệu thì niên hiệu này không còn thay đổi nữa. 

Do đó từ sau triều đại nhà Minh – Thanh, cách xưng hô của Hoàng đế thường dùng niên hiệu. Ví như Hoàng đế Khang Hy thì ‘Khang Hy’ chính là niên hiệu.

Lối xưng hô của các đời vua ở Việt Nam cũng như vậy. Ví như ‘miếu hiệu’ thì có: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông… ‘Thuỵ hiệu’ thì có: Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế… Còn ‘niên hiệu’ thì có: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị…

Mạn Vũ

Chú thích: 

(1) Nguyên gốc là: “Cận giả phụng từ phạt tội, tinh huy nam chỉ, Lưu Tông thúc thủ, kim trị thủy quân bát thập vạn chúng, phương dữ tướng quân hội liệp ư Ngô”.