Lời toà soạn: Lịch sử 5.000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông là cả một kho tàng vô giá cho hậu thế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những quan niệm mới có phần thiên kiến, lệch lạc, lịch sử ấy đã bị cải biên và nguỵ tạo nhiều. Với mong muốn phục hưng lại nền văn minh vĩ đại cũng như những truyền thống đạo đức quý báu, chúng tôi tiến hành giới thiệu loạt bài về chủ đề ‘Lịch sử Á Đông’ trân trọng gửi đến quý độc giả, ngõ hầu phá giải được những quan niệm sai lệch hiện nay.

Chuyên đề “Nhân vật anh hùng thiên cổ”

Vào thế kỷ 13, khi Nam Tống chỉ còn lại một phần lãnh thổ ở Giang Nam, cùng Tây Hạ và nước Kim hình thành nên thế kiềng ba chân, thì trên thảo nguyên rộng lớn ở phương bắc, có một con ‘đại bàng’ đang trưởng thành rất nhanh, và dần dần thống nhất thảo nguyên phương bắc, tiếp theo đó xây dựng đế quốc thảo nguyên “Đại Mông Cổ Quốc”, con đại bàng Mông Cổ mang tên Thiết Mộc Chân đó được mọi người tôn xưng là “Thành Cát Tư Hãn”. Sau này, ông cùng con cháu của mình thống lĩnh thiết kỳ Mông Cổ ba lần chinh chiến phương Tây, tung hoành khắp lãnh thổ Á – Âu, thậm chí là đánh chiếm đến tận nước Nga, Ba Lan và Hungary của ngày nay, khiến toàn bộ châu Âu phải chấn động vì điều này…

Cùng với sự viễn chinh của quân đội Thành Cát Tư Hãn, các phương diện của Châu Âu như khoa học, chiến tranh, ăn mặc, thương mại, ẩm thực, nghệ thuật, văn học và âm nhạc đều bị ảnh hưởng bởi người Mông Cổ cùng văn hóa Trung Hoa, và có sự thay đổi trong thời kỳ Phục Hưng. Chính vì người Mông Cổ và văn hóa Trung Hoa có sự ảnh hưởng rất lớn đến Châu Âu, nhà thơ nổi tiếng người Anh Chaucer đã hết lời ca ngợi Thành Cát Tư Hãn và những thành tích của ông trong tác phẩm “Chuyện kể ở Canterbury” (Canterbury Tales), ông dùng mỹ từ để ca ngợi rằng: “Vị vua cao quý này tên là Thành Cát Tư Hãn, vào thời kỳ ông còn vang danh khắp nơi, ở bất cứ nơi nào, bất cứ khu vực nào đều chưa từng xuất hiện một vị vua của vạn vật kiệt xuất như thế”.

Đến từ lời tiên tri của tổ tiên

Tổ tiên của tộc người Mông Cổ là một nhánh của tộc người Đột Quyết, thuộc một dân tộc cổ xưa ở miền bắc Trung Quốc, lúc đầu sinh sống tại thượng nguồn Hắc Long Giang, sinh tồn bằng nghề du mục, sau đó dần dần phân bố đến khu vực rộng lớn ở cao nguyên Mông Cổ. Do địa hình Mông Cổ cao và lạnh giá, cho nên kỳ đóng băng hàng năm tại đó kéo dài từ bốn đến năm tháng, Nhiệt độ lạnh nhất là khoảng âm 25 độ C. Vào thời kỳ ngũ đại Liêu-Tống-Kim, từ “Mông Cổ” được phiên dịch thành Mạt Kiếp Tử, Mai Cổ Tất, Mô Cát Thất, Mao Cát Thạch, Mao Yết Thất, Manh Cổ Tư, Mông Quốc Tư, Mông Cổ Tư, Mông Cổ Lý, Manh Cốt Tử, Mông Cốt Đẳng… nhà Nguyên thì phiên dịch thành Mông Cổ. Trong “Sử Tập” của Lạp Thi Đặc dịch ý nghĩa của từ “Mông Cổ” là “yếu ớt, chất phác”, ý nghĩa này chỉ phù hợp với tình trạng nhỏ bé và chất phác của bộ tộc Mông Cổ nguyên thủy sống trong rừng sâu hẻo lánh trong thời kỳ đầu.

Vào thời Nam Tống, bộ tộc Mông Cổ trở nên đông đảo nhưng không thống nhất với nhau, rời rạc không có sự liên kết, nhưng trên danh nghĩa thì đều thuộc về nước Kim, chỉ là lúc thì tạo phản lúc thì đầu hàng. Bởi họ sống ở vùng lạnh giá, nước Kim cho rằng không có gì để lấy cả, chủ yếu áp dụng biện pháp phòng ngự, ví dụ như xây trường thành, và tập trung sự chú ý vào việc tấn công Nam Tống, vì vậy đã vô tình để cho bộ tộc Mông Cổ có không gian phát triển.

Lúc bấy giờ, có hơn 20 bộ lạc Mông Cổ chính: Khất Nhan, Tháp Tháp Nhĩ, Niệt Nhi Khất Dịch, Khắc Liệt Diệt Dịch và Nãi Man, v.v… cuộc sống chủ yếu của những dân du mục Mông Cổ di chuyển liên tục ngoài thế giới tự nhiên là săn bắt và thương mại, chăn nuôi và chiến tranh. Vì muốn trở nên giàu có, nên giữa các bộ tộc Mông Cổ thường xuyên tiến hành những cuộc chiến tàn khốc, mà những người đàn ông Mông Cổ đều phải biến mình thành thợ săn và chiến sĩ. Tổ tiên của Thành Cát Tư Hãn cũng như vậy.

Tổ tiên 10 đời của Thành Cát Tư Hãn là Bột Đoan Sát Nhi, mẹ của Bột Đoan Sát Nhi là A Lan Quả Hỏa, sau khi bà được gả cho Thoát Bôn Mị Lý Kiền, sinh được hai người con trai. Sau này chồng bà qua đời, có một đêm A Lan nằm mơ thấy có ánh sáng trắng từ cửa sổ chiếu vào trong lều, và biến thành vị thần màu vàng kim. Sau đó thì A Lan mang thai, sinh ra một người con trai, tức Bột Đoan Sát Nhi. Bột Đoan Sát Nhi có vẻ ngoài kỳ dị, im lặng ít nói, người nhà đều nói Bột Đoan Sát Nhi là một tên ngốc, chỉ có A Lan nói: “Đứa con này không phải đứa ngốc, con cháu đời sau chắc chắn có người cao quý”.

Sau này A Lan qua đời, hai người anh trai của Bột Đoan Sát Nhi chia gia sản, nhưng không để lại bầy ngựa, thức ăn hay bất cứ thứ gì cho Bột Đoan Sát Nhi cả. Bột Đoan Sát Nhi không ý kiến gì cả, ngược lại còn cho rằng nghèo giàu sang hèn đều là số phận cả. Rời xa hai người anh, một mình Bột Đoan Sát Nhi cưỡi ngựa trắng đi đến vùng đất Bát Lý Đồn A Lãn của khu vực bán đảo, sống bằng cách thả ưng ngỗng (một loại chim săn mồi) đi bắt thú hoang, cuộc sống săn bắt của ông vô cùng thuận lợi, dường như luôn có sự giúp đỡ của Thiên thượng.

Trải qua vài tháng, có mấy chục gia đình di cư từ Thống Cấp Lý Hốt Lỗ đến, họ sống bên cạnh  Bột Đoan Sát Nhi, nhưng hai bên không chút thân thiết. Một hôm, người anh trai thứ hai của Bột Đoan Sát Nhi đột nhiên nhớ đến ông, và mời ông về nhà. Trên đường về, Bột Đoan Sát Nhi nói với anh trai mình: “Đám người từ Thống Cấp Lý Hốt Lỗ đến là một tộc người tan rã, không có lớn nhỏ, không phân tôn ti cao thấp, tạm thời chưa có thủ lĩnh, nếu như tấn công thì có thể hàng phục bọn họ”. Người anh thứ hai quả nhiên nghe theo, thế là họ quay về nhà chọn ra một số tráng sĩ, Bột Đoan Sát Nhi dẫn theo đám tráng sĩ này quay lại đánh lén, quả nhiên khiến cho đám người đó quy phục.

Chân dung Thành Cát Tư Hãn (Ảnh: Vương Song Khoan/Epoch Times).

Khi Thiết Mộc Chân ra đời xuất hiện dị tượng

Bộ tộc Khất Nhan là bộ tộc nguyên thủy nhất của tộc người Mông Cổ, sau này bộ tộc Khất Nhan sinh ra “gia tộc hoàng kim” Bột Nhi Chỉ Cân Thị. Bộ tộc Khất Nhan trong lịch sử có rất nhiều gia tộc phân nhánh, còn gia tộc thuộc về “gia tộc hoàng kim” thực sự chỉ có vài họ mà thôi, tức họ Chỉ Nhi Cần, họ Thái Diệc Xích Ô, họ Bột Nhi Chỉ Cân. Sau khi một mình Bột Đoan Sát Nhi xây dựng thị tộc, lấy họ là Bột Nhi Chỉ Cân, cũng có nghĩa là thị tộc (họ) này được phát triển từ cái tên “Bột Đoan Sát Nhi”, trong “Mông Cổ Bí Sử” có một đoạn ghi chép: “Bột Đoan Sát Nhi là thị tộc Bột Nhi Chỉ Cân.”

Bột Đoan Sát Nhi là thủy tổ của gia tộc Bột Nhi Chỉ Cân. Sau khi Bột Đoan Sát Nhi chết, thế lực của bộ tộc Khất Nhan được mở rộng trong thời của cháu trai ông là Nạp Chân và trong thời của chắt ông là Hải Đô, càng ngày càng có nhiều người quy thuận. Vào thời kỳ của Hợp Bố Lặc Hãn – tổ tiên trước Thiết Mộc Chân bốn đời, từ “Khất Nhan” lại đặt ở phía trước “Bột Nhi Chỉ Cân”, hợp thành “Khất Nhan – Bột Nhi Chỉ Cân”. Sau khi đến đời của Thành Cát Tư Hãn Thiết Mộc Chân mới tách riêng ra dùng “Bột Nhi Chỉ Cân” làm họ riêng, để thể hiện sự tôn quý.

Chớp mắt đã đến thời kỳ cha của Thành Cát Tư Hãn là Dã Tốc Cai làm thủ lĩnh của gia tộc Bột Nhi Chỉ Cân và minh trường của bộ lạc Mông Cổ (minh trường là người đứng đầu tất cả các bộ lạc của Mông Cổ). Dã Tốc Cai là một dũng sĩ của tộc người Mông Cổ, cương nghị nhưng không thiếu sự hiền từ. Một hôm, khi ông đang thả chim ưng bắt mồi bên cạnh hồ Oát Nan, gặp người của bộ tộc Miệt Nhi Khất Dịch Bộ là Dã Khách Xích Liệt Đô đi lấy vợ từ bộ tộc Oát Lặc Hốt Nột Ngột Dịch Bộ trở về. Dã Tốc Cai vừa nhìn thấy người vợ xinh đẹp tuyệt trần Ha Ngạch Lôn đã động lòng, liền cùng với ba người anh em đuổi theo chiếc xe ngựa, ông thực hiện cách thứ hai để giành được cô dâu trên thảo nguyên là cướp hôn. Dã Khách Xích Liệt Đô muốn nghĩ cách thoát khỏi sự truy đuổi của họ, nhưng không thể làm được gì, cuối cùng Ha Ngạch Lôn trở thành người vợ thứ hai của Dã Tốc Cai, tức “Ha Ngạch Lôn ngột chân. Từ “ngột chân” trong tiếng Hán có nghĩa là “phu nhân”. Người vợ đầu tiên của ông tên là Tác Tế Cách Lặt, có một đứa con trai tên Biệt Khắc Thiếp Nhi.

Một năm sau, Ha Ngạch Lôn trẻ đẹp sinh ra một người con, đứa bé sơ sinh “tay cầm cục máu đông giống hòn đá đỏ”. Mà lúc đó Dã Tốc Cai nhiều lần phát động chiến tranh với người của Tháp Tháp Nhĩ. Thì ra, ông chú của Dã Tốc Cai là  Yêm Ba Hài từng làm tù binh của người Tháp Tháp Nhĩ, và bị đưa tới nước Kim, người Kim gán cho ông tội danh phản bội và đóng đinh ông lên trên con lừa gỗ cho đến chết. Vì chuyện này mà các gia tộc của Mông Cổ từng nhiều lần xảy ra chiến tranh với người Tháp Tháp Nhĩ và người Kim, dùng máu để báo thù.

Trong một trận chiến do Dã Tốc Cai phát động vào năm 1155, ông đã giết chết một thủ lĩnh tên Thiết Mộc Chân Ngột Cách. Khi ông quay trở về bộ lạc, Dã Tốc Cai liền dùng cái tên “Thiết Mộc Chân” đặt tên cho con trai mình, để tưởng nhớ võ công của người này. Sau đó, Ha Ngạch Lôn lại sinh thêm ba người con trai là: Hợp Tát Nhi, Hợp Xích Ôn, Thiếp Mộc Cách và một cô con gái tên Thiếp Mộc Lôn.

Hiện tượng lạ xuất hiện lúc Thiết Mộc Chân chào đời đã gây ra sự chú ý của một người. Một thợ rèn tên Trát Nhi Xích Ngột Đãi của gia tộc Ngột Lương Hợp Bộ đích thân đến thăm đứa bé mới chào đời, tặng cho đứa bé một chiếc khăn quấn lông chồn làm quà gặp mặt, và nói mình cũng vừa sinh được một con trai, tên Giả Lặc Miệt, đợi sau khi nó lớn lên sẽ làm “người hầu bên cạnh” Thiết Mộc Chân. Hiển nhiên là Trát Nhi Xích Ngột Đãi có tầm nhìn rất độc đáo, có tầm nhìn xa trông rộng, ý thức được cuộc đời của Thiết Mộc Chân sẽ không tầm thường.

Mở mang giáo dục và mệnh đế vương

Thiết Mộc Chân lúc nhỏ rất thích nghe người ta kể chuyện, vì vậy ông thường xuyên ở cạnh những người có sở trường kể chuyện, ví dụ như những người hầu thân tín của Dã Tốc Cai: Sát Lạt Hợp của thị tộc Hoảng Khoát Đàn, Ngột Tôn của thị tộc Ba Lân Bộ và Cổ Ôn Khoát A (cha của Mộc Hoa Lê) của thị tộc Trát Thích Nhi Bộ. Họ kể rất nhiều câu chuyện liên quan đến sự hưng thịnh và suy vong của một quốc gia, mưu kế chiến tranh, cách nắm quyền quyết định trong tay, giúp Thiết Mộc Chân phân biệt được thiện ác tốt xấu, phải trái đúng sai, đây có lẽ là một phần quan trọng khiến Thiết Mộc Chân tiếp nhận mở mang giáo dục.

Do Sát Lạt Hợp rất thích Thiết Mộc Chân nên đã kêu con trai là Mông Lực Khắc đến chăm sóc Thiết Mộc Chân. Mông Lực Khắc quen biết với thầy tướng thuật Khoát Nhi Xích nổi tiếng trong bộ lạc Mông Cổ khi đó, nên đã mời ông đến xem tướng cho Thiết Mộc Chân. Khoát Nhi Xích vừa nhìn thấy Thiết Mộc Chân, liền nói rằng Thiết Mộc Chân có mệnh đế vương, nên ông thường xuyên đến dạy dỗ Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân học ngôn ngữ Đột Quyết, tiếng Mông Cổ và tiếng Đông Hồ, nghe được nhiều câu chuyện hơn. Mà tất cả những điều này đều là sự sắp đặt của ông Trời dành cho Thiết Mộc Chân.

Trong một lần di chuyển doanh trại đến nơi khác, người cha Dã Tốc Cai đã vô tình làm lạc mất đứa con trai Thiết Mộc Chân, Thái Diệc Xích Ô bộ phát hiện ra Thiết Mộc Chân, thủ lĩnh của họ là Tháp Nhi Hốt Đài đưa Thiết Mộc Chân về nhà của mình và giữ ông ở lại một thời gian. Sau này, Thiết Mộc Chân được đưa về bộ lạc của mình, Dã Tốc Cai bắt đầu có mối quan hệ tốt với Thái Diệc Xích Ô bộ, nhưng về sau lại vì chuyện tranh giành vị trí minh trường mà nảy sinh hiềm khích.

Gặp được hoàng hậu định mệnh

Đến năm 9 tuổi, theo như tập tục của người Mông Cổ, Thiết Mộc Chân sẽ được cha mình dẫn đến gia tộc của người mẹ Ha Ngạch Lôn để tìm kiếm người vợ tương lai. Trên đường đi, họ gặp được Đức Tiết Thiện (ý là đại thánh giả) của người Ông Cát Lạt Dịch Bộ. Sau khi Đức Tiết Thiện nhìn thấy Thiết Mộc Chân, vừa nhìn đã biết người này là có nhân phẩm phi phàm, ông nói “trong mắt có lửa, trên mặt có ánh sáng”, đây là câu nói quen thuộc của người Mông Cổ dành để khen ngợi các thanh niên trẻ tuổi có tinh thần nhiệt huyết. Ông còn trực tiếp gọi Dã Tốc Cai là “thông gia”, nói rằng đêm qua mình mơ một giấc mơ, mà giấc mơ này là do vị thần bảo hộ của bộ tộc Khất Nhan thác mộng. Trong mơ, ông nhìn thấy Hải Đông Thanh (một loại chim ưng) màu trắng gắp lấy mặt trời và mặt trăng bay đến, rơi xuống tay của ông, đây là một điềm báo cát tường, và điều này ứng với sự có mặt của cha con Dã Tốc Cai và Thiết Mộc Chân, tiên tri cuộc đời không tầm thường của Thiết Mộc Chân trong tương lai.

Vì giấc mơ này nên Đức Tiết Thiền mời cha con Thiết Mộc Chân đến nhà mình, để gặp cô con gái Bột Nhi Thiếp của ông, nó chỉ lớn hơn Thiết Mộc Chân có một tuổi. Cô gái Bột Nhi Thiếp thông minh xinh đẹp đó chính là hoàng hậu và nội trợ đắc lực của Thành Cát Tư Hãn sau này. Năm 1178, cô kết hôn cùng với Thiết Mộc Chân vào năm 18 tuổi, sau đó sinh được bốn người con trai và năm người con gái, bốn người con trai: Thuật Xích, Sát Hợp Đài, Oa Khoát Đài, Đà Lôi đều cực kỳ nổi tiếng. Không chỉ như vậy, Bột Nhi Thiếp còn là quân sư rất thông minh của Thiết Mộc Chân, chiếm một địa vị rất cao trong lòng của ông.

Khi đó Thiết Mộc Chân vừa nhìn thấy Bột Nhi Thiếp cũng “trong mắt có lửa, trên mặt có ánh sáng” như mình, liền vô cùng yêu thích, sau đó lập tức cầu hôn. Đức Tiết Thiền đồng ý, Dã Tốc Cai cho rằng Đức Tiết Thiền học rộng hiểu nhiều, có thể làm thầy mình, cho nên cũng tán thành, đôi bên tiến hành đính hôn trước. Dựa theo quy định của người Mông Cổ, Thiết Mộc Chân bị giữ lại trong nhà của Đức Tiết Thiền sinh sống và làm việc, sau khi Dã Tốc Cai để lại sính lễ, một mình quay trở về.

Thành Cát Tư Hãn và tổ tiên Tumanba Khan của ông; Bột Nhi Thiếp và 9 người con của bà. (Ảnh: Phạm vi công cộng).

Dã Tốc Cai bị hại

Trên đường Dã Tốc Cai quay về nhà, vì đói bụng nên muốn tìm một chút gì đó để ăn, đúng lúc nhìn thấy có một đám người Tháp Tháp Nhĩ đang tổ chức tiệc trên thảo nguyên. Tuy rằng ông biết là tám năm trước mình từng giết chết Thiết Mộc Chân Ngột Cách và những người trong tộc của họ, cần phải che giấu thân phận, nhưng ông vẫn xuống ngựa đi vào trong đám đông, tham gia bữa tiệc theo đúng phong tục bản địa.

Rất nhanh chóng, có một người Tháp Tháp Nhĩ nhận ra Dã Tốc Cai, liền lén bỏ thuốc độc vào trong thức ăn của ông. Tuy là Dã Tốc Cai bị trúng độc rất nghiêm trọng, nhưng ông vẫn tìm được cách để thoát thân, và ba ngày sau quay về đến nơi ở của bộ tộc mình. Sau khi kêu người nhanh chóng đi gọi Thiết Mộc Chân đang ở nhà của Đức Tiết Thiền về, và căn dặn người hầu Mông Lực Khắc chăm sóc cô nhi quả phụ xong, Dã Tốc Cai đã qua đời.

Đợi khi Thiết Mộc Chân vội vàng quay trở về nhà, chỉ nhìn thấy di hài của cha mình, và hai người vợ cùng bảy đứa con chưa tròn 10 tuổi của cha mình, trong đó có hai người con: Biệt Khắc Thiếp Nhi và Biệt Lặc Cổ Đài là anh em cùng cha khác mẹ của Thiết Mộc Chân. Vì gia tộc Bột Nhi Chỉ Cân mất đi thủ lĩnh, lòng người hoang mang, còn Thái Diệc Xích Ô bộ lúc đầu luôn dựa dẫm vào Dã Tốc Cai, nay cho rằng hai quả phụ cùng bảy đứa bé không có tác dụng gì cả nên không bằng lòng cung cấp thức ăn cho họ, vì vậy khi bộ lạc di chuyển chỗ ở, Thái Diệc Xích Ô bộ đã bỏ rơi họ, còn mang theo rất nhiều người dân và gia súc của Dã Tốc Cai. Lúc đó chỉ có Sát Thích Hợp đứng ra chống lại hành vi ức hiếp phụ nữ và trẻ em yếu đuối, nhưng lại bị đâm một nhát dao. Thiết Mộc Chân tận mắt chứng kiến chuyện này nhưng lại không thể làm được gì.

Còn có một người hầu tên Thoát Đoan Hỏa Nhi Chân cũng vô tình lựa chọn rời khỏi gia đình Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân khóc lóc giữ ông lại, nhưng ông nói: “ao sâu đã cạn rồi, đá cứng đã vỡ nát rồi, ở lại thì có ích gì nữa chứ?”, sau đó ông dẫn theo một đám người và ngựa rời khỏi.

Ha Ngạch Lôn mạnh mẽ vẫn cố gắng thêm một lần cuối cùng. Bà cưỡi ngựa, vẫy lá cờ của người chồng quá cố, đuổi theo đám người đã bỏ rơi mẹ con bà. Những người này cảm thấy xấu hổ trong lòng đã tạm thời quay trở lại doanh trại, nhưng sau khi màn đêm buông xuống, tất cả những người đó đều lặng lẽ bỏ đi, chỉ còn lại gia đình Thiết Mộc Chân. Giờ đây gia đình Thiết Mộc Chân thật sự rơi vào hoàn cảnh khốn khó.

Bức vẽ Ha Ngạch Lôn và bốn người con nuôi. (Ảnh: KoizumiBS / Wikimedia Commons).

Rèn luyện ý chí kiên cường trong nghịch cảnh

Tuy nhiên, dưới sự cố gắng của Ha Ngạch Lôn tài giỏi, gia tộc Bột Nhi Chỉ Cân vẫn tiếp tục sinh tồn một cách ngoan cường. Vì để nuôi sống các con, và đào tạo cho chúng thành những nam tử hán kiệt xuất, Ha Ngạch Lôn ngày đêm đi theo ven theo sông Oát Nan (sông Onon) hái các loại thức ăn như lê, trái dại, rau dại, rau rừng, đào rễ địa du và cây cúc dại mọc trên mặt đất. Còn Thiết Mộc Chân hiểu chuyện và các đứa em cũng mình thì bẻ cong cây kim thành cái móc câu, đan những tấm lưới chắn cá, đi ra sông bắt cá nhỏ, cá to, chế tạo mũi tên bằng gỗ để bắt rắn bắt chuột v..v… để giảm bớt gánh nặng cho mẹ mình. Cũng may là còn có sự giúp đỡ hết mình của người hầu Mông Lực Khắc được Dã Tốc Cai phó thác trước lúc chết và cha con Sát Thích Hợp. Lòng trung thành và sự lương thiện của Mông Lực Khắc cũng ảnh hưởng đến Thiết Mộc Chân rất nhiều, gia đình Thiết Mộc Chân ít nhiều gì cũng cảm nhận được một chút ấm áp trong hoàn cảnh khó khăn. Sau này, Mông Lực Khắc trở thành cha dượng của Thiết Mộc Chân, ông cũng là đệ nhất công thần có công khai quốc của đế quốc Mông Cổ, Thiết Mộc Chân luôn luôn kính trọng ông.

Trải qua một thời gian, thủ lĩnh của Thái Diệc Xích Ô bộ là Tháp Nhi Hốt Đài lo lắng sau khi Thiết Mộc Chân trưởng thành sẽ đến tìm họ báo thù, nên đã dẫn theo người đi bắt Thiết Mộc Chân trước, muốn trừ cỏ tận gốc. Thiết Mộc Chân nhảy lên lưng ngựa chạy trốn vào trong một khu rừng rậm rạp, đám người Thái Diệc Xích Ô bao vây toàn bộ khu rừng rậm.

Sau khi trốn trong rừng ba ngày, Thiết Mộc Chân dự định đi ra ngoài, nhưng yên ngựa lại rơi xuống, điều kỳ lạ là tấm yếm ngựa vẫn đang cài, dây đai yên ngựa cũng đang được thắt chặt, Thiết Mộc Chân cảm thấy có lẽ là ông Trời muốn ngăn cản mình đi ra ngoài, vì vậy ông lại quay về trong rừng, tiếp tục ở đó thêm ba ngày. Khi ông muốn đi ra lần nữa, ông nhìn thấy có một tảng đá to chặn ngay lối ra của khu rừng, ông tự lẩm bẩm một mình: “Chẳng lẽ là ông Trời vẫn ngăn cản mình đi ra ngoài?” Thế là ông lại quay về chỗ cũ đợi thêm ba đêm.

9 ngày trôi qua, Thiết Mộc Chân vẫn không ăn không uống, cuối cùng ông nghĩ: “Thay vì cứ chết trong im lặng như vậy, chi bằng đi ra ngoài xem sao”, cứ như vậy mà ông bước ra khỏi khu rừng rậm. Vừa ra khỏi rừng rậm là bị người Thái Diệc Xích Ô bắt giữ, họ dùng một loại gông cùm bằng gỗ để khóa ông lại, để hai tay của ông không thể cử động được, không thể tự ăn đồ và uống nước, mỗi ngày đều có những gia đình khác nhau đến đảm nhận trách nhiệm canh giữ. Người Thái Diệc Xích Ô còn đưa ông đi khắp nơi để thị chúng, hy vọng dùng cách này để làm suy sụp ý chí của ông, và cắt đứt suy nghĩ của mọi người cho rằng Thiết Mộc Chân có thể làm đế vương trong tương lai.

Tuy nhiên, trong những ngày bị giam cầm, Thiết Mộc Chân khi đó tuổi vẫn còn nhỏ nhưng không hề khuất phục, mà chọn cách nhịn nhục để thực hiện chí hướng to lớn. Cho đến hiện nay tài liệu lịch sử vẫn chưa xác định rõ Thiết Mộc Chân bị giam cầm trong thời gian bao lâu, có lẽ là trong thời gian vài năm. Sau đó, có một lần người Thái Diệc Xích Ô tổ chức tiệc, Thiết Mộc Chân đánh ngất người canh giữ trẻ tuổi, rồi trốn ra ngoài. Vì để trốn khỏi sự truy bắt của người Thái Diệc Xích Ô, ông nhanh trí trốn vào trong dòng nước trong tư thế nằm ngửa, để mặc tấm gông cùm trôi theo dòng nước, chỉ để lộ khuôn mặt. Sau đó, dưới sự giúp đỡ của một người Thái Diệc Xích Ô tốt bụng, cuối cùng Thiết Mộc Chân cũng chạy thoát được.

Sau khi chạy thoát Thiết Mộc Chân đã tìm được mẹ và các em của mình, cả nhà đoàn tụ rồi trốn vào trong núi Bất Nhi Hãn, dựa vào việc bắt sóc đất, chuột núi để duy trì cuộc sống. Trong thời gian này, vì người anh em cùng cha khác mẹ Biệt Khắc Thiếp Nhi nhiều lần trêu chọc thách thức Thiết Mộc Chân, khi ấy ông còn quá trẻ nên không nhịn được đã ra tay bắn chết Biệt Khắc Thiếp Nhi, việc làm này của Thiết Mộc Chân đã bị mẹ ruột Ha Ngạch Lôn trách mắng, còn Biệt Khắc Thiếp Nhi trước lúc chết cũng không trách ông, ngược lại còn hy vọng ông có thể đối tốt với người anh em cùng cha khác mẹ là Biệt Lặc Cổ Đài. Thiết Mộc Chân vô cùng hối hận, từ đó anh em đồng lòng, cùng nhau mưu tính chuyện lớn. Biệt Lặc Cổ Đài cũng trở thành công thần khai quốc của đế quốc Mông Cổ.

Cuộc sống gian nan và khó khăn đã rèn luyện cho anh em Thiết Mộc Chân một ý chí kiên cường, khiến cho họ trưởng thành rất nhanh chóng, ý chí kiên cường này cũng trở thành một trong những nhân tố quan trọng giúp Thiết Mộc Chân sau này có thể nổi danh trên thảo nguyên mênh mông.

Còn tiếp…

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch