Mưa lớn không ngừng đổ xuống lưu vực sông Trường Giang. Lượng nước đạt đỉnh tại hồ chứa Tam Hiệp lần thứ 2 còn chưa rút thì mưa to gió lớn lần thứ 3 lại tiếp tục dội xuống. Trong tình huống này, một video diễn thử việc vỡ đập Tam Hiệp được chia sẻ rộng rãi trên mạng internet khiến người xem rùng mình. Đập vỡ, nước lũ cao gần 100 mét đổ xuống vùng hạ du với tốc độ 100km mỗi giờ. 

Năm 2004, nhiều người biết rõ về sóng thần ở Ấn Độ Dương (trận sóng thần này còn gọi là sóng thần Nam Á) có độ cao 15 đến 30 mét. Lần sóng thần thứ 2 xuất hiện cột nước cao tới 51 mét nhưng cũng chỉ bằng một nửa so với cột nước do vỡ đập Tam Hiệp. Trong đoạn video được lan truyền gần đây, đập Bản Kiều trên sông Hoài Hà ở Trung Quốc đã được xây dựng vào năm 1975 vỡ khiến nước đổ xuống vùng hạ du với tốc độ 21,6 km mỗi giờ. Bây giờ, nếu đập Tam Hiệp nổ tung sẽ tạo thành sóng thần lớn hơn cả sóng thần Nam Á và tạo ra thảm họa lớn hơn nhiều lần so với vụ vỡ đập Bản Kiều. 

Nhìn những con số trên, người bình thường có thể không cảm nhận được thảm họa bi thương khi đập Tam Hiệp vỡ. Năm đó, sóng thần Nam Á ập đến với độ cao khoảng 30 mét đã nuốt chửng hàng trăm ngàn người. Tính nhanh một chút, nếu đập Tam Hiệp vỡ tạo ra cột nước cao hàng trăm mét, gấp 3 lần so với sóng thần Nam Á thì sức tàn phá của nó quả là không thể tưởng tượng được. 

Hơn nữa, đập Tam Hiệp nằm ở thượng nguồn sông Trường Giang, nếu vỡ thì cột nước sẽ đổ xuống khu vực giữa và hạ lưu của con sông này, đây cũng là khu vực có nền kinh tế phát triển nhất ở Trung Quốc. Dọc hai bên bờ sông có khu công nghiệp quan trọng và các vựa lúa nông nghiệp, các khu công nghiệp công nghệ cao. Những thiệt hại về kinh tế và số người thương vong sẽ không thể tưởng tượng được. 

Video diễn thử đập Tam Hiệp vỡ.

Sóng thần Nam Á và sự cố vỡ đập Bản Kiều trên sông Hoài là bài học lịch sử cho Trung Quốc tham khảo

Vào ngày 26/12/2004, sóng thần Nam Á xuất hiện đã ngay lập tức phá hủy các khu vực đồng bằng ven biển. Cơn địa chấn Sumatra-Andaman xảy ra dưới đáy biển Andaman thuộc phía Đông Bắc của Ấn Độ Dương. Tâm chấn cách bờ biển phía Tây Indonesia 160 km đã tạo nên trận động đất mạnh 9 độ trở lên. Sau chưa đầy 16 phút, trận động đất này đã kích hoạt một chuỗi các đợt sóng thần chết người lan tỏa khắp Ấn Độ Dương. Đợt một, những con sóng chỉ cao từ 15 đến 30 mét, tuy nhiên, đợt 2 sóng nước cao tới 51 mét. 

Trận sóng thần này đã nuốt chửng Indonesia và các khu vực ven biển của Sri Lanka, Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar và những nơi khác, cướp đi sinh mạng của hơn 300 ngàn người, khiến 3 đến 5 triệu người phải đi lánh nạn. 

Đầu tháng 8/1975, mưa lớn đã xảy ra ở khu vực Trú Mã Điếm ở phía nam tỉnh Hà Nam làm cho 2 hồ chứa lớn là hồ Bản Kiều và hồ Thạch Mạn Than cùng 58 hồ chứa nhỏ và vừa như Trúc Câu, Điền Cương… đã vỡ cùng lúc. Cả 7 huyện gồm Toại Bình, Tây Bình, Nhữ Nam, Bình Hưng, Tân Thái, Loa Hà và Lâm Tuyền chìm trong biển nước. Sự kiện vỡ đập Bản Kiều được xem là thảm họa nhân tạo khủng khiếp nhất trong lịch sử Trung Quốc, cũng là bài học để Bắc Kinh xây dựng đập Tam Hiệp.

Nhưng đối với Trung Quốc, tài liệu tham khảo có giá trị nhất về sự cố vỡ đập Tam Hiệp phải là sự cố vỡ đập hồ chứa Bản Kiều xảy ra ở lưu vực sông Hoài thuộc tỉnh Hà Nam năm 1975. Sự cố này mang số hiệu “758 – lũ bất thường”. Mưa lớn gây ra bởi cơn bão Nina khiến 62 hồ chứa, bao gồm hồ chứa Bản Kiều bị vỡ. Theo số liệu Wikipedia, thảm họa này khiến hơn 200 ngàn người thiệt mạng và hơn 10 triệu người đã trở thành nạn nhân. Nạn đói, bệnh dịch hoành hành, khiến cho người dân trong khu vực lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Chính quyền tỉnh Hà Nam đã đếm được 85.600 người chết trong tháng đó. Hơn nữa tai họa do lũ lụt còn gây ra dịch bệnh, nạn đói, ngập úng… Số người bị ảnh hưởng là 10,15 triệu người. Hồng thủy khiến 30 quận và thành phố chìm trong biển nước, hơn 6,8 triệu ngôi nhà bị sập. 

Bản đồ khu vực bị ảnh hưởng bởi sự cố vỡ đập của hồ chứa Bản Kiều (ảnh: Stevenliuyi / Wiki, CC BY-SA 4.0).

Vào ngày 6/8/1975, một thông báo về việc mở cửa xả lũ trong các đập nước với khối lượng xả tối đa là 400 mét khối mỗi giây được đưa ra. Vào lúc 23 giờ đêm, các cửa thoát nước của đập Bản Kiều cũng được mở ra hết công suất. 

Vào lúc 19h30′ ngày 7/8, ban quản lý đập Bản Kiều đã điện khẩn tới cấp trên báo cáo: “Mức nước ở đập Bản Kiều đang tăng rất nhanh và tình hình vô cùng nghiêm trọng, mực nước cách đỉnh cao nhất chỉ 1,3 mét, đập sẽ vỡ khi nước mưa đạt 300mm”. Vào lúc 22h10′ ban quản lý đập nhận được thông báo từ Bộ chỉ huy phòng chống lũ lụt yêu cầu mở cửa xả lũ ở mức tối đa 450 mét khối mỗi giây, không cân nhắc mức độ ảnh hưởng, xả toàn bộ để giữ an toàn cho đập. Tuy nhiên, rạng sáng 8/8, đập Bản Kiều đã vỡ khiến nước tràn ra hàng ngàn dặm. 

Vào lúc 0h20′ ngày 8/8, trạm phát điện ngừng hoạt động, 20 phút sau nước lũ đã tràn đập. Sau đó, Ban Quản lý hồ chứa đã thực hiện một cuộc gọi khẩn đặc biệt lần thứ 3, báo cáo rằng đập Bản Kiều đã có chỗ vỡ và 5 cửa xả lũ đã tự ý mở hết công suất. Vào lúc 1 giờ sáng, mực nước của hồ chứa Bản Kiều đã tăng lên mức cao nhất là 117,94 mét, cao hơn 1,6 mét so với đỉnh đập và vượt đỉnh 0,3 mét. Dung tích lưu trữ tương ứng là 613,1 triệu mét khối. Nước lũ chảy qua tường chắn sóng cuốn sỏi trên đường làm đổ tường phòng hộ, sau đó nước lũ đã phá vỡ thân đập. Hai hồ chứa nước lớn là hồ Bản Kiều và hồ Thạch Mạn Than cùng 58 hồ chứa nhỏ và vừa như Trúc Câu, Điền Cương vỡ sau vài giờ. 

Đập chứa nước Bản Kiều vỡ khiến nước lũ ùa ra với tốc độ 21,6 km (6m/giây) mỗi giờ đổ xuống hạ lưu. Xã Đạo Văn Thành Công đón đầu nước lũ khiến 227 hộ chết hết, 9600 người thiệt mạng. 

Sau 1 giờ kể từ lúc vỡ đập, nước lũ đã chảy xa đến 45km. Một số người bị dây sắt và dây điện quấn quanh ghìm chết. Một số người bị rơi xuống cống không thể hít thở được mà chết, nhiều người còn vì nước lũ quá lớn mà chết đuối. 

Vào khoảng 3 giờ, hồng thủy cao 7-10 mét vượt qua thành phố Toại Bình đi xa 45 km.

Hồ chứa nước Bản Kiều sau khi vỡ đập (Ảnh: Wikipedia).

Thảm họa gián tiếp nạn đói, đại ôn dịch hoành hành

Tính đến ngày 13/8, sau thảm họa, nhiều khu vực dọc theo lưu vực sông Hoài đã bị ngập lụt, hàng triệu người bị mất nhà cửa và lâm vào hoàn cảnh màn trời chiếu đất. 

Ở huyện Nhữ Nam có 100 ngàn người bị ngập lụt, 40 ngàn người được giải cứu, 60 ngàn người vẫn bị mắc kẹt trên các cây cao. Toàn bộ huyện có 200 ngàn người bị sưng hết mặt mũi cần phải sơ cứu gấp. 

Có 300 ngàn người phải sống trên đê, gác nhà và lán bè, 20 xã đều chìm trong biển nước và nhiều người phải nhịn đói trong 5 ngày đêm. 

Một đại đội 4 ngàn người của đại đội Lưu Liên Ngọc thuộc hợp tác xã Hoa Pha đã phải ăn sạch hết lá cây để chống đói. 

Đại đội Trương Kiều của xã Hoàng Phố có 300 người đã không có thức ăn nên trong suốt 6 ngày 7 đêm, họ đã phải ăn động vật chết. 

50 ngàn người ở khu hồ chứa Túc Áp phải nhịn đói 4 đến 5 ngày. 

Đến ngày 16/8, tại đại đội Xạ Kiều huyện Bình Dư có 3 người cao tuổi, vì không có thức ăn, cũng không có cứu trợ nên đã treo cổ tự tử. 

Người dân không có quần áo mặc. Ngày 17/8, nhân viên kế toán Ngô Tống chết để lại vợ và 6 đứa con, 3 đứa không có quần, 3 đứa còn lại chỉ có quần lót để mặc. 

Lúc đó là vào giữa mùa hè, vỡ đập, nước lớn, cống thoát nước tắc nghẽn khiến nhiều khu vực bị ngâm trong nước nhiều ngày. 

Xác chết ngâm trong nước thời gian dài dẫn đến bệnh dịch lây lan, hơn nữa các loại thức ăn cũng bị chìm trong biển nước càng làm tăng tốc độ bệnh tật lây lan. 

Tính đến ngày 21/8 (13 ngày sau khi đập bị vỡ), 370 ngàn người trong khu vực vẫn còn bị ngâm trong nước. Họ phải ăn thực phẩm sống, không có muối để ăn. Sản phẩm cứu trợ được máy bay thả xuống, 50-60% đều trôi nổi trong nước. Một đại đội giành ăn bí đỏ ngâm trong nước khiến 37 người bị trúng độc. 

Cúm, bệnh lỵ trực khuẩn, viêm gan truyền nhiễm, sốt rét, viêm não Nhật Bản và bệnh leptospirosis lan rộng khắp nơi. Hơn nữa, nhiều người còn mắc các bệnh sốt thương hàn, chấn thương, ngộ độc và đau mắt đỏ. Theo thống kê chưa đầy đủ, số người nhiễm bệnh ước tính là 1133 ngàn người.  

Vào ngày 21 sau thảm họa, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng khiến sức đề kháng của người dân suy giảm, các bệnh truyền nhiễm như viêm gan, viêm não Nhật Bản, sốt thương hàn, sốt rét gia tăng. Nhiều nơi đã buộc phải áp dụng biện pháp cách ly tại địa phương. 

Từ ngày 1 đến ngày 6/9, Không quân đã điều động 248 máy bay liên tiếp phun thuốc bột khử trùng 666 trên diện tích 250 km2  về phía Tây hồ Túc Áp. Sau đó, lượng thuốc này còn được sử dụng thêm nên tổng cộng lượng thuốc dùng đến là 272 tấn. 

Xây dựng đập nước lớn Bản Kiều, chuyên gia thủy lợi phản đối mạnh mẽ. 

Xây dựng đập tích nước lớn này lấy ý tưởng từ thực hiện kế hoạch đại nhảy vọt “Dự trữ nước làm chủ”, ngay lúc đó, kỹ sư trưởng Trần Linh của Sở tài nguyên môi trường tỉnh Hà Nam đã phản đối ngay lập tức. 

Nếu lấy tích nước ở khu vực đồng bằng làm chủ và hạn chế thoát nước sẽ gây ra 3 vấn đề là úng lụt, nước tù và kiềm hóa. Lượng nước quá nhiều sẽ gây úng lụt, nước đọng lâu ngày không thoát sẽ gây nên hiện tượng tích muối dẫn đến thảm họa kiềm. 

Tuy nhiên, ý kiến ​​của Trần Linh đã bị gạt sang một bên. Bản thân ông cũng vì nói lên ý kiến mà phạm phải tư tưởng hữu khuynh nghiêm trọng. Sau đó, ông còn bị liệt vào phần tử “Chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh” và bị đẩy xuống làm nhân viên đưa thư ở Hà Nam. 

Đấu với trời đất và ăn bớt nguyên liệu

Đập hồ Bản Kiều và Thạch Mạn Than cùng nhiều đập nước khác là sản phẩm và chính quyền muốn đấu với thiên nhiên. Đây gọi là công trình “Nhân dân quản lý sông Hoài”. Hồi đầu những năm 1950, chúng là những hồ chứa quy mô lớn đầu tiên được thiết kế và xây dựng sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập.

Hầu hết các hồ chứa bị vỡ là do Liên Xô hỗ trợ và xây dựng trong cách mạng Đại nhảy vọt. Chúng là nơi chứa nước lớn, kiểm soát lũ nhẹ, chất lượng thấp và bị ăn bớt nguyên liệu xây dựng.

Hơn nữa kế hoạch Đại nhảy vọt lại chú trọng luyện thép cùng với “Nông nghiệp học đại trại” gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho thảm thực vật và xói mòn đất ở thượng nguồn của hồ chứa.

Cuối cùng sự cố vỡ đập theo dây truyền trên quy mô lớn đã diễn ra

Lượng nước trong hồ chứa Bản Kiều lớn hơn mức quy định là 32 triệu mét khối. Hơn nữa hồ nước này còn ít được bảo trì, trước lúc vỡ đập, hồ có 17 cửa thoát nước nhưng chỉ có 5 cửa là còn có thể sử dụng. 

Sự cố vỡ đập xảy ra đúng vào thời điểm thực hiện cách mạng văn hóa, do vậy các lực lượng chức năng còn đang bận rộn với “Cách mạng” nên đã không có thời gian để ngăn chặn lũ lụt. Có thông tin nói rằng lúc ấy Bí thư tỉnh ủy tỉnh Hà Nam nhận được điện khẩn liền lập tức điện báo nhanh cho Kỷ Đăng Khuê, Phó Thủ tướng Hội đồng Nhà nước của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau một cuộc thảo luận ngắn giữa Kỷ Đăng Khuê và Lý Tiên Niệm, hai người đã đi đến quyết định xin chỉ thị Đặng Tiểu Bình. Lúc 22h45′ ngày 7/8, Lý Tiên Niệm điện thoại điện cho Đặng Tiểu Bình nhưng con gái ông nghe máy và nói thân thể của Đặng không khỏe đã đi ngủ, hơn nữa cô đã kiên quyết không đánh thức cha. Sau đó Kỷ Đăng Khuê và Lý Tiên Niệm mới biết được thông tin, Đặng Tiểu Bình không bị ốm cũng không có đi ngủ đêm hôm đó, mà là chơi mạt chược tại Vạn Lý gia. 

Sự cố vỡ đập Bản Kiều là một thảm họa lớn nhưng đã không hề được truyền thông Trung Quốc đề cập tới. Phải đến 30 năm sau, vào ngày 28/5/2005, kênh Discovery của Mỹ đã phát một chương trình đặc biệt có tên “TOP 10 thảm họa do lỗi kỹ thuật của con người trong lịch sử thế giới”, trong đó sự cố 758 ở Trung Quốc được coi là thảm họa nhân tạo khủng khiếp nhất trong lịch sử thế giới, nó còn đáng sợ hơn cả vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở Ukraine năm 1986 hay Thảm họa Bhopal ở Ấn Độ năm 1984.

Tháng 9/2005, hồ sơ về vụ vỡ đập Bản Kiều đã được tiết lộ. Con số người chết ghi lại trên sách, báo, báo cáo về vụ việc này rất khác nhau. Theo mạng lưới Baidu tìm kiếm về sự cố vỡ đập 758, trong công văn của Bộ Tài nguyên nước: “Sự kiện đập chứa nước vỡ năm 1975 đã khiến 26 ngàn người chết”. Tuy nhiên trong lời giới thiệu của bài báo biết bởi Lạc Thừa Chính của viện nghiên cứu Thủy văn có thông tin số người chết trong sự kiện vỡ đập năm 1975 là 85.600 người”.

Theo số liệu được cung cấp bởi Tân Hoa Xã ngày 26/11/2005, Hồ chứa Bản Kiều đã vỡ được thiết kế có thể chứa lượng nước là 492 triệu mét khối. Tuy nhiên tổng lượng nước trong trận lũ năm đó mà hồ chứa phải gánh là 697 triệu mét khối.

Hãy thử tưởng tượng, tổng lượng nước của hồ chứa đập Tam Hiệp là 39,3 tỷ mét khối. Nếu đập này vỡ thì thảm họa hẳn là không thể tưởng tượng được. 

Theo Sound Of Hope
San San biên dịch