Mỗi vương triều người Hán thống trị sẽ lưu lại một dự ngôn vô cùng có hệ thống, ví như: ‘Mã tiền khoá’ của Gia Cát Lượng thời Hán, ‘Thôi bối đồ’ triều Đường, ‘Mai hoa thi’ thời Tống, ‘Thiêu bính ca’ triều Minh…

Những dự ngôn này dự báo đại sự phát sinh từ lúc đó cho đến tận… ngày hôm nay.

Nếu lịch sử là kịch bản thì theo những dự ngôn trên, chúng ta đang sống trong một thời đại rất đặc thù. Đặc thù như thế nào, chúng ta sẽ tìm hiểu trong phần này.

Ở các phần trước, Giáo sư Chương Thiên Lượng đã đề cập đến 4 (trong 5) đặc điểm của văn minh Trung Hoa gồm: 

  • Là nền văn minh truyền thừa 5000 năm liên tục trên thế giới.
  • Có ghi chép lịch sử mang tính khả tín 5000 năm không gián đoạn.
  • Là nền văn minh do các dân tộc cùng nhau sáng tạo.
  • Có văn hoá Đạo gia phát triển. Giáo sư Chương tổng kết 2 điều của văn hoá Đạo gia là: tính ‘ly tán’ rời rạc, và tính ‘toàn tức’ (toàn bộ tín tức/thông tin)

Còn đặc điểm thứ năm (đặc điểm cuối cùng) của văn hoá Trung Hoa, theo Giáo sư Chương chính là: lưu lại dự ngôn một cách có hệ thống.

Dự ngôn Trung Quốc có tính hệ thống

Giáo sư Chương nhìn nhận, văn hoá Trung Quốc có một đặc điểm rất lớn chính là lưu lại dự ngôn vô cùng hệ thống. Trong chương trình giảng sử ‘Tiếu đàm phong vân’, hầu như sau mỗi tập, Giáo sư Chương đều đề cập đến dự ngôn ứng với thời kỳ đó.

Ví như trong Tiếu đàm phong vân phần 1 – Đông Chu liệt quốc, Giáo sư Chương đề cập đến sự diệt vong của nhà Tây Chu.

Tây Chu diệt vong vào năm 771 TCN, với vị quân chủ cuối cùng là Chu U Vương, thì trước đó khoảng 10 năm, tức năm 780 TCN đã có một điềm báo.

Năm 780 TCN, ở Tam Xuyên xảy ra động đất, khi đó có một Thái sử là Bá Dương Phủ nói rằng, khi Y thuỷ và Lạc thuỷ khô kiệt, triều Hạ sẽ diệt vong; khi Hoàng Hà khô kiệt, triều Thương diệt vong; Tam Xuyên động đất, đá từ núi lăn xuống sẽ làm tắc dòng sông, Tam Xuyên (ba sông) khô kiệt, triều Chu diệt vong.

Địa phương Tam Xuyên chính là chứng tích của Chu Văn Vương và Chu Vũ Vương, nếu nơi này mà khô kiệt thì triều Chu diệt vong. Vị quốc vương của triều Chu hiện tại, đạo đức của ông ấy so với đạo đức triều Hạ và triều Thương trước lúc diệt vong là vô cùng giống nhau, cho nên triều Chu đã ở trong những ngày nguy hiểm.

Khoảng 10 năm sau, điều này đã ứng nghiệm. Câu chuyện này được ghi trong ‘Sử ký – Chu bản kỷ’.

Trong Tiếu đàm phong vân phần 5, khi nói về Minh triều diệt vong, Giáo sư Chương có đề cập đến dự ngôn ‘Mai hoa thi’ của Thiệu Khang Tiết triều Tống (trước triều Minh). Trong đó đề cập rất rõ ràng về triều Minh bằng 4 câu thơ như sau:

Tất cánh anh hùng khởi bố y
Chu môn bất thị cựu hoàng kỳ
Phi lai Yên tử tầm thường sự
Khai đáo Lý hoa xuân dĩ phi

Nguyên văn Hán tự:

畢竟英雄起布衣
朱門不是舊黃畿
飛來燕子尋常事
開到李花春已非

Câu đầu tiên: “Tất cánh anh hùng khởi bố y” là chỉ về Chu Nguyên Chương với thân phận bố y (phường áo vải, dân thường) khởi sự. “Chu môn bất thị cựu hoàng kỳ”, ý nói nhà họ Chu này sẽ không còn sống trong cảnh hàn vi, mà sẽ ngồi trong Tử Cấm Thành. 

Câu tiếp theo “Phi lai Yên tử tầm thường sự” rõ ràng là nói về Yên vương Chu Đệ (người con thứ tư của Chu Nguyên Chương) với ‘Chiến dịch Tĩnh Nan’ (Tĩnh Nan chi dịch). Sau 3 năm chiến dịch Tĩnh Nan, Chu Đệ nhập Nam Kinh trở thành Hoàng đế. Câu cuối cùng “Khai đáo Lý hoa xuân dĩ phi”, thì “Lý hoa” chỉ Lý Tự Thành, đợi đến khi Lý Tự Thành xuất binh thì Minh triều cũng kết thúc.

Hay như trước đó nói về ‘Mã tiền khoá’ của Gia Cát Lượng thời Hán cũng là một dự ngôn rất thú vị. Khi dự ngôn Tào Nguỵ soán Hán, ông viết như thế này:

Vô lực hồi thiên
Cúc cung tận tuỵ
Âm cư dương phất
Bát thiên nữ quỷ

Nguyên văn Hán tự:

無力回天
鞠躬盡瘁
陰居陽拂
八千女鬼

Hai câu đầu là “Vô lực hồi thiên/Cúc cung tận tuỵ” ý nói rằng: bản thân ông ‘cúc cung tận tuỵ, đến chết mới thôi’ nhưng vẫn không thể cứu vãn vận mệnh nhà Hán. 

Hai câu sau là “Âm cư dương phất/Bát thiên nữ quỷ”, thì ghép 4 chữ Bát (八) Thiên (千) Nữ (女) Quỷ (鬼) thì ra được chữ Nguỵ (魏), chính là Thục Hán sẽ bị nước Nguỵ diệt vong.

Còn nói về sự diệt vong của triều Minh, Gia Cát Lượng viết:

Nhật nguyệt lệ thiên
Kỳ sắc nhược xích
Miên miên diên diên
Phàm thập lục thế

Nguyên văn Hán tự:

日月麗天
其色若赤,
綿綿延延
凡十六世

Trong câu thứ nhất “Nhật nguyệt lệ thiên”, thì chữ Nhật (日) ghép với chữ Nguyệt (月) thì thành chữ Minh (明), chính là chỉ triều Minh. Câu thứ hai “Kỳ sắc nhược xích”, thì chữ Xích (赤) có nghĩa là đỏ, đồng nghĩa với chữ Chu (朱: đỏ thắm), họ của vương tộc triều Minh. Hai câu sau “Miên miên diên diên/Phàm thập lục thế”, thì “thập lục thế” chỉ 16 đời vua triều Minh.

‘Thôi bối đồ’ của Đường cũng dự ngôn rất rõ ràng về sự diệt vong của triều Minh. Tượng 32 viết rằng:

Mã khiêu bắc khuyết
Khuyển ngao tây phương
Bát cửu số tận
Nhật nguyệt vô quang

Nguyên văn Hán tự:

馬跳北闕
犬嗷西方
八九數盡
日月無光

Tượng 32 còn có một bức tranh, trong đó có ‘con ngựa’ đứng dưới ‘cổng’ thành.

Tranh vẽ tượng 32 trong ‘Thôi bối đồ’ và chữ Sấm được ghép từ chữ Môn và Mã trong Tiếu đàm phong vân phần 5 tập 36: Mật mã lịch sử.

Câu thứ nhất “Mã khiêu bắc khuyết” nghĩa là ‘ngựa’ đi qua ‘cổng’ ‘bắc’. ‘Ngựa’ (Mã – 馬) mà đứng dưới ‘cổng’ (門) thì ra chữ Sấm (闖), ý chỉ Sấm vương Lý Tự Thành, còn chữ ‘bắc’ chỉ Bắc Kinh. Cho nên cả câu muốn nói rằng Lý Tự Thành sẽ tiến vào Bắc Kinh.

Câu thứ hai “Khuyển ngao tây phương” chỉ sự kiện Trương Hiến Trung (lãnh tụ khởi nghĩa nông dân cuối triều Minh) thành lập chính quyền Đại Tây. Tại sao lại giải được như vậy? Bởi vì chữ Hiến (獻) trong tên của Trương Hiến Trung (張獻忠) có bộ Khuyển (犬: con chó). Còn chữ ‘tây’ trong câu thơ thứ hai chỉ chính quyền Đại Tây.

Câu thơ thứ ba “Bát cửu số tận”, nghĩa là ‘bát’ – 8 cộng ‘cửu’ – 9 thì bằng 17. Năm Sùng Trinh thứ 17 thì Lý Tự Thành tấn công Bắc Kinh. Câu thứ chín “Nhật nguyệt vô quang”, thì ‘nhật’ (日) ghép với ‘nguyệt’ (月) thành chữ Minh (明). “Nhật nguyệt vô quang” ý chỉ triều Minh không còn ánh hào quang, cũng tức là Minh triều đã bị diệt vong.

Trong văn hoá Trung Quốc, những dự ngôn dự báo về những sự kiện lớn như vậy có rất nhiều, nó hình thành một bộ hệ thống. Điều này không giống với phương Tây.

Phương Tây cũng có dự ngôn, những nhà chiêm tinh cũng nói về tương lai sẽ phát sinh sự việc gì, nhưng chúng không hệ thống. Đương nhiên cũng có những dự ngôn cá biệt giảng khá hệ thống, ví như ‘Các thế kỷ’ của Nostradamus, nhưng chúng không thành hiện tượng dự ngôn được xã hội nhận thức phổ biến.

Mà dự ngôn Trung Quốc hình thành một bộ hệ thống. Mỗi vương triều người Hán thống trị mà ổn định lâu dài, thì lưu lại dự ngôn vô cùng có hệ thống như ‘Mã tiền khoá’ của Gia Cát Lượng thời Hán, ‘Thôi bối đồ’ triều Đường, ‘Mai hoa thi’ triều Tống, ‘Thiêu bính ca’ triều Minh, đều dự ngôn tất cả những đại sự từ thời đại của các tác giả đang sống đến lúc ‘vạn vương chi vương’ trong Kinh Phật quay lại, hoặc đến thời ‘thẩm phán cuối cùng’ trong Thánh Kinh. Điều này cũng nói với chúng ta rằng lịch sử là một kịch bản.

Nếu nói lịch sử là một kịch bản, thì theo những dự ngôn mà giảng, chúng ta đang sống trong một thời đại cực kỳ đặc thù. Bởi vì trong Trung Hoa văn minh sử tập 5, Giáo sư Chương từng đề cập đến việc, các dân tộc khác nhau đều lưu lại một truyền thuyết giống nhau đó là: đến một ngày Thần sẽ quay lại.

Theo Kinh Phật giảng, khi hoa Ưu Đàm Bà La khai nở chính là lúc Chuyển Luân Thánh Vương quay lại. Mà từ khoảng những năm 2000, chúng ta thật sự đã thấy hoa Ưu Đàm Bà La khai nở ở các nơi trên thế giới. Trong kinh ‘Huệ lâm âm nghĩa’ viết rằng: “Hoa Ưu Đàm Bà La là điềm lành linh dị cảm ứng, là thiên hoa (hoa từ Trời), trên thế gian không có. Nếu Như Lai hạ thế, Kim Luân Vương (Chuyển Luân Thánh Vương) xuất hiện ở thế gian mang theo đại phúc đức, cảm ứng được điều này thì hoa mới nở”.

Hoa Ưu Đàm Bà La mọc trên một nhánh cây khô. Ảnh chụp từ một video quay ngày 27/11/2020 ở toà nhà Bali 1, khu đô thị New City, quận 2, Sài Gòn do dịch giả cung cấp.

Do đó thấy rằng chúng ta đang sống trong một thời đại đặc thù. Giáo sư Chương từng giảng rằng, an bài của lịch sử là có mục đích, Thần không thể tuỳ tuỳ tiện tiện mà an bài lịch sử. 

Vậy rốt cuộc mục đích của an bài này là gì? Vì sao toàn thế giới có nhiều văn minh cổ xưa nhưng đều bị đại hồng thuỷ nhấn chìm, chỉ riêng văn minh Trung Hoa được lưu lại? Bởi vì toàn bộ văn minh Trung Hoa có thể là một quá trình trải đường, để chuẩn bị cho ‘đại sự cuối cùng’. Đại sự này có thể là sự trở lại của Đức Chuyển Luân Thánh Vương mà hoa Ưu Đàm Bà La dự báo.

Những nguyên nhân khiến văn hoá Trung Hoa kéo dài không dứt

Liên quan đến việc vì sao văn minh Trung Hoa kéo dài không dứt, giới học giả cũng có giai thích của họ. Còn Giáo sư Chương có một góc nhìn rất độc đáo: nếu lịch sử là cao trào, thì người làm kịch bản vì để cao trào cuối cùng đến một cách tự nhiên, thì trước đó phải làm rất nhiều yếu tố. Còn trong giới học giả cũng đưa ra một số lý do để người thế gian hiểu được việc văn minh Trung Hoa có thể kéo dài không dứt.

Trong ‘Trung Hoa văn minh sử’ của Giáo sư Viên Hành Bái có đưa ra một số giải thích, giải thích này có thể nói rõ một số vấn đề. 

Giáo sư Chương cho rằng nó chưa nói được căn bản vấn đề, nhưng vẫn cảm thấy một số giải thích có giá trị học thuật.

Nguyên nhân thứ nhất khiến văn minh Trung Hoa kéo dài không dứt (theo Giáo sư Viên Hành Bái) là do phạm vi địa lý vô cùng rộng lớn. 

Kỳ thực khi chúng ta nhìn bản đồ sẽ thấy Trung Quốc nằm ở khu vực địa lý được Trời ưu đãi. Phía đông là Đại Hải, phía tây là cao nguyên Thanh Tạng và một dải sa mạc rộng lớn, cách khai Trung Quốc với Trung Á, Tiểu Á và châu Âu. Phía nam là rừng rậm nguyên thuỷ, còn phía bắc là thảo nguyên và sa mạc.

Văn minh Trung Hoa là một văn minh được kiến lập ở một địa khu vô cùng phong bế (kín). Nó không giống như Hy Lạp hay các quốc gia nhỏ khác, dễ dàng bị tấn công bởi các đế quốc như Macedonia, La Mã hay Ba Tư. Như Giáo sư Chương nói ở phần trước, chỉ có phương bắc mới hình thành uy hiếp đối với Trung Quốc. Nhưng thông thường loại xâm lược này lại có thể bị đồng hoá thông qua văn hoá của Hán tộc. Cho nên vị trí địa lý này hình thành một loại bảo hộ đối với văn hoá Trung Hoa.

Đồng thời bởi vì phạm vi địa lý của Trung Quốc vô cùng rộng lớn, cho nên khi Trung Quốc gặp phải xâm lược của các dân tộc thiểu số, họ có không gian để rút lui cả hai đường thuỷ – bộ. Giống như câu chuyện ‘y quan nam độ’ (áo mũ về nam) lúc Tây Tấn diệt vong, bao gồm cả việc văn hoá đi về phương nam thời kỳ Nam Tống v.v. đều là do Trung Quốc có không gian rộng lớn đủ để di chuyển, mới có thể bảo tồn được văn hoá Trung Hoa.

Nguyên nhân thứ hai là do quy mô của văn hoá Trung Hoa vô cùng lớn, bởi vì nó đem chính trị, kinh tế, thi ca, văn học, triết học v.v. dung hợp thành nhất thể, hình thành một chỉnh thể. Quy mô của văn minh này trở thành vô cùng to lớn. Nếu đem một phương diện tuyệt diệt mất, ví như thay đổi chế độ chính trị hoặc cuộc sống kinh tế, thì văn minh Trung Hoa vẫn có thể thông qua những tải thể khác để truyền thừa. Do đó đây cũng là một nguyên nhân khiến văn minh Trung Hoa có thể tiếp diễn.

Nguyên nhân thứ ba là do người Trung Quốc sùng bái tổ tiên. Sùng bái tổ tiên chính là ‘thận chung truy viễn’ (慎終追遠: kính cẩn các nghi lễ tế tự tổ tiên), cũng có nghĩa là tiếp nối văn hoá của tổ tiên.

Nguyên nhân thứ tưtrong văn hoá Trung Hoa có khái niệm ‘gia quốc đồng cấu‘ (家國同構: nước – nhà cùng cấu thành quốc gia), bảo vệ quốc gia cũng là bảo vệ gia đình của mình. Cho nên lịch sử Trung Quốc xuất hiện rất nhiều anh hùng bảo vệ quốc – gia. ‘Loại tình cảm mang chủ nghĩa yêu nước này’ bảo vệ lãnh thổ, nhân dân và văn hoá.

Nguyên nhân thứ năm là do văn hoá Trung Hoa mang tinh thần ‘tự cường bất tức’ và ‘hậu đức tải vật’ (‘tự cường không nghỉ’ và ‘đức dày chở vật’). Đây là trích từ trong Chu Dịch: “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” (Trời vận động mạnh mẽ, quân tử nên tự cường không nghỉ) và “Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật” (Thế đất dày rộng, quân tử nên lấy đức dày mà chở vật).

“Tự cường bất tức” chính là mạnh mẽ, đầy sinh lực, con người phải ra sức nỗ lực chăm chỉ; đồng thời cũng phải “hậu đức tải vật”, chính là phải bao dung; vừa hoàn thiện bản thân, vừa có thể tiếp nạp văn hoá khác. Đây là điều khiến lực sinh mệnh của văn hoá Trung Hoa vô cùng thịnh vượng.

Nguyên nhân thứ sáu cũng rất quan trọng chính là Hán tự của Trung Quốc. Đây là ‘tài phú’ vô cùng trân quý của văn hoá Trung Hoa. ‘Âm’ và ‘Nghĩa’ của Hán tự là phân khai, chính là cách đọc và ý nghĩa của nó là tách biệt. Nó không giống văn tự ghép âm của phương tây, ‘âm’ và ‘nghĩa’ hợp thành một. Ví như tiếng Đức, Pháp, Tây Ban Nha… họ viết như thế nào thì đọc như thế nấy. Nhưng thuận theo thời gian trôi qua, nếu cách đọc của mỗi chữ thay đổi, thì cách viết cũng thay đổi, người ta đọc không hiểu từ nguyên gốc.

Mà Hán tự có ‘âm’ và ‘nghĩa’ phân khai, cùng một chữ nhưng cách đọc thời Thượng Cổ, Tần – Hán, Tuỳ – Đường, Tống – Minh có thể khác nhau, nhưng tự hình (hình dạng chữ) không đổi. Như thế, dù trải qua vài trăm/nghìn năm sau, chúng ta có thể đọc hiểu được thư tịch cổ để liễu giải văn hoá và hành vi của con người thời đó. Do đó Hán tự Trung Quốc ổn định – chữ trong khung vuông (phương khối tự – 方塊字), là một cống hiến khiến cho văn hoá Trung Hoa không bị mai một.

Hơn nữa vì ‘âm’ và ‘nghĩa’ không liên quan, nên dù nói tiếng Quảng Đông, Mân Nam, hay các giọng địa phương khác nhau…, chỉ cần văn tự thống nhất, thì mọi người có giao lưu với nhau, văn hoá có thể tiếp tục bảo lưu.

Những điều trên (theo Giáo sư Viên Hành Bái) là nguyên nhân khiến cho văn minh Trung Hoa kéo dài liên tục mà không bị gián đoạn.

Vậy là đã kết thúc 7 tập đầu (phát hành miễn phí) của Trung Hoa văn minh sử của Giáo sư Chương Thiên Lượng. Còn 8 tập sau (từ tập 36 đến 43) là nói về Pháp gia, chúng tôi sẽ đưa đến cho quý độc giả trong những phần tiếp theo.

Đôi lời của người dịch

Những loạt bài về lịch sử của Giáo sư Chương Thiên Lượng như ‘Tiếu đàm phong vân’, ‘Trung Hoa văn minh sử’ làm nhiều người (trong đó có tôi) có cách nhìn rất khác về lịch sử.

Như đã nói ở tập 1, trong những tổng kết của mình, Giáo sư Chương có đề cập đến vấn đề: giáo dục lịch sử thiếu tính chỉnh thể. Thực tế là như vậy, những điều mà thế hệ như tôi được học chỉ là những điều vụn vặt, rời rạc, không có tính chắp nối. Nhưng khi đọc/xem giảng sử của Giáo sư Chương, nhiều người đã thấy được một bức tranh toàn cảnh (whole picture) về lịch sử. Điều này có lợi ích gì?

Chúng ta thường nghe câu này: ‘Ôn cố tri tân’ (ôn cũ biết mới), ‘ôn cổ minh kim’ (ôn xưa biết nay), thì lịch sử là tham chiếu cho chúng ta nhìn sự vật sự việc ngày hôm nay. Tuy thời đại có khác nhau, nhưng tính cách và mối quan hệ giữa người với người vẫn là những điều ‘xưa nhưng không cũ’ ấy. 

Giáo sư Chương từng nói trong Chính luận thiên hạ đăng ngày 2/11/2021: “Trung Quốc cổ đại từ thời Tần Thuỷ Hoàng đến nay trải qua hơn 400 vị Hoàng đế, kèm theo đó là không biết bao nhiêu nhân vật lịch sử, các chủng các dạng tính cách đều có”. Nếu theo cách nói hiện đại, lịch sử là kho dữ liệu khổng lồ để chúng ta phân tích. Đây là điều thứ nhất mà tôi tâm đắc: có bức tranh toàn cảnh về lịch sử.

Nhưng đây chưa phải là điều tôi tâm đắc nhất. Điều tôi tâm đắc nhất trong những loạt bài lịch sử của Giáo sư Chương đó là: đây là góc nhìn lịch sử của một người có tín ngưỡng chân chính. Vì sao tôi nói như vậy?

Thứ nhất, trong Chính luận thiên hạ đăng ngày 12/3, khi nói về loạt bài ‘Trung Hoa văn minh sử ‘ của mình, Giáo sư Chương có đề cập đến việc: sau khi biên tập lại (để in thành sách), bản thân mình vẫn cảm thấy mới. Tôi nhìn nhận Giáo sư Chương được Thần khải thị (chỉ dẫn), bởi vì có những trí huệ đến bất cứ lúc nào mà mình không biết.

Thứ hai, trong Tiếu đàm phong vân phần 3, tập 4: Diệt Phật hưng Phật, Giáo sư Chương có kể câu chuyện về cuộc đối thoại giữa Đạt Ma và Lương Vũ Đế Tiêu Diễn.

Lương Vũ Đế là người rất tín Phật, sau khi nghe tin Đạt Ma từ Thiên Trúc chèo thuyền vượt biển đến Quảng Châu, Lương Vũ Đế đã mời Đạt Ma đến Kiến Khang, ông hỏi vị cao tăng đến từ phương tây rằng: “Từ lúc trẫm kế vị đã xây tự miếu, in Kinh Phật, cúng dường tăng lữ, làm rất nhiều sự việc như vậy, hỏi công đức bao nhiêu?”. 

Đạt Ma trả lời: “Một chút công đức cũng không có, đây đều là những việc hữu lậu, giống như bóng ảnh không thực.

Công đức chân chính là trí huệ ‘thanh tĩnh viên diệu’, ngài căn bản không thể thông qua phương pháp thế tục mà đắc được”.

Đoạn đối thoại rất có ý vị của Đạt Ma và Lương Vũ Đế trong Tiếu đàm phong vân phần 3, tập 4: Diệt Phật hưng Phật.

Giáo sư Chương lại nhớ đến câu chuyện trong Phật giáo mà bản thân đã đọc ở đại học. 

Thời Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, có một vị trưởng giả tên là Tu Đạt muốn cúng dường cho Phật một tịnh xá. Ông tìm khắp nơi, cuối cùng tìm được một hoa viên rất đẹp có chủ là Hoàng tử Ba Tư Nặc. 

Vì có nhiều tiền nên Ba Tư Nặc không muốn bán hoa viên rất đẹp này, ông mới thách Tu Đạt nếu dùng vàng lót hết khu vườn thì mới bán. Tu Đạt tưởng thật nên đã bán cả sản nghiệp để mua vàng lót, nhưng không lót hết được, còn để lại một góc. Thấy lòng thành của vị thương gia, Ba Tư Nặc quyết định bán khu vườn cho Tu Đạt để cúng dường tịnh xá cho Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp. Sau này vị thương nhân Tu Đạt chỉ được quả vị A Na Hàm – một quả vị trong Tam giới.

Thời đại học, Giáo sư Chương đọc nhưng không hiểu tại sao, mãi đến khi bước vào tu luyện, đọc mục đầu tiên trong Bài giảng thứ nhất sách Chuyển Pháp Luân, bản thân mới minh bạch, bởi vì những việc xây chùa, bái Thần, cúng dường… đều là hữu vi.

Đây là lý do vì sao tôi nói Giáo sư Chương là người có tín ngưỡng chân chính.

Vậy người có tín ngưỡng chân chính nhìn lịch sử có khác gì so với người dùng ‘vô Thần luận’ hoặc chủ nghĩa Mác để nhìn nhận lịch sử? Cá nhân tôi và thậm chí cả bạn cũng sẽ thấy khác.

Những người không có tín ngưỡng nhìn lịch sử là những cuộc đấu tranh, mỗi lần cải triều hoán đại đều là nông dân tạo phản, hoặc coi những thứ sắc tình và đấu đá cung đình là chủ tuyến hoặc động lực của lịch sử. Thậm chí nếu bạn đọc lời giới thiệu trong cuốn tiểu thuyết nói về hành trình tu luyện là Tây Du Ký, thì trong đó là những thứ như ‘đấu tranh’, ‘bình đẳng’… chứ không nói về tâm tính và giác ngộ.

Trong Tiếu đàm phong vân phần 5, tập 36: Mật mã lịch sử, Giáo sư Chương nói rằng mình nhìn lịch sử với tâm thái siêu thoát, tức đứng từ bên ngoài mà nhìn, giống như: 

Cổ kim đa thiểu sự
Đô phó tiếu đàm trung

(Cổ kim bao nhiêu chuyện
Cười nói luận đàm vui)

Trong Trung Hoa văn minh sử tập 2, Giáo sư Chương có đề cập đến một số phương pháp nghiên cứu lịch sử như: đây là cái gì, vì sao lại như vậy… Nghiên cứu điều này là chuyện bình thường, bạn tìm giải thích hợp lý cho những hiện tượng/sự kiện lịch sử. 

Nhưng khi Giáo sư Chương đề cập đến mục đích thứ tư ‘như thế để làm gì’, sau đó phát hiện lịch sử là một kịch bản được an bài cho cao trào cuối cùng. Tôi nhìn nhận phải là người có tín ngưỡng mới đạt được trình độ đó, có sự rõ ràng từ cổ chí kim, từ đó thấy được an bài của Thần cho đại sự cuối cùng.

Tôi thấy rằng những người có tín ngưỡng thường đạt được thành tựu rất cao, và tôi tin Thần cấp cho họ trí huệ để làm việc ấy. Những ví dụ trong lịch sử có rất nhiều, ví như: Newton hay Einstein đều là người có tín ngưỡng.

Nhân đây tôi cũng muốn chia sẻ câu chuyện tôi rất tâm đắc về bậc thầy điêu khắc là Michelangelo. Ông là người đặt tiêu chuẩn cho nghệ thuật điêu khắc, cùng với Raphael và Leonardo da Vinci bộ ba bậc thầy vĩ đại của thời kỳ Phục Hưng.

Triết lý điêu khắc của ông rất đơn giản: ‘Đục đến da thì ngừng lại’. Câu nói này khiến nhiều người khó hiểu, nhưng người có tín ngưỡng chân chính giải thích rằng: vì ông có thiên mục nên ông thấy được Thần hoặc người trong khối đá, nên chỉ cần đục đến đó là dừng.

Từ những câu chuyện trên thấy rằng, muốn làm việc thành công, trước tiên phải làm người có đạo đức, có tín ngưỡng chân chính, từ nền tảng ấy, chúng ta mới được Thần cấp cho trí huệ để làm việc, thậm chí làm những việc vĩ đại hơn nữa.

***

7 tập đầu tiên của ‘Trung Hoa văn minh sử’ trình bày ‘lịch sử quan’ (góc nhìn lịch sử), phương pháp nghiên cứu lịch sử… đứng từ quan điểm lịch sử văn minh.

Đến phần xuất bản miễn phí tiếp theo từ tập 36 đến 43 sẽ trình bày về tư tưởng Pháp gia. Tôi lấy câu chuyện như thế này: nếu bạn ở quảng trường Thiên An Môn mang một tấm biển trắng không ghi gì cả, ĐCSTQ sẽ bắt bớ bạn. Vì sao lại như vậy? Bởi vì bạn có… tư duy độc lập.

Việc cấm con người có tư duy độc lập có từ thời ‘Thương Ưởng biến pháp’ (cải cách Thương Ưởng) cách đây hơn 2000 năm. Thương Ưởng là một trong 3 nhân vật của Pháp gia (cùng với Lý Tư và Hàn Phi Tử), mà tư tưởng Pháp gia lại vô cùng giống với chính quyền độc tài như ĐCSTQ. Vậy Thương Ưởng là người như thế nào và tư tưởng Pháp gia có đặc điểm gì, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ

Chú thích: Link Trung Hoa văn minh sử tập 7.