Người xưa tin vào thuyết “Thiên – Nhân cảm ứng”, đạo Trời và lòng người đều có linh thông với nhau. Con người làm điều vô đạo thì Trời cao sẽ cảm ứng, trút xuống thiên tai, dịch bệnh để cảnh báo.

Trong lịch sử, chúng ta luôn bắt gặp một kịch bản lặp lại khá nhiều lần như thế này: Hôn quân bạo ngược, triều chính đổ nát, lòng người ly tán, giặc cướp nổi lên, liền sau đó ôn dịch, lũ lụt, động đất, dị tượng cũng xuất hiện dày đặc. Xét trong lịch sử Trung Quốc, hầu như triều đại nào sắp diệt vong cũng xuất hiện nhiều dị tượng như là điềm báo trước. Bạn đọc có lẽ đã quen thuộc với đoạn nói về dị tượng cuối thời Đông Hán được miêu tả trong tác phẩm kinh điển “Tam Quốc diễn nghĩa” dưới đây:  

“Ngày rằm tháng tư năm Kiến Ninh thứ hai (167 sau Thiên chúa) vua ngự điện Ôn Đức, tự nhiên có cơn gió to ầm ầm từ góc điện nổi lên, rồi thấy một con rắn xanh lớn ở trên xà nhà quăng xuống quằn quại trên long án. Vua kinh hoảng ngã đùng ra, các quan tả hữu vội cứu vực vào cung; ở ngoài văn võ cũng sợ chạy cả. Được một lát con rắn biến mất và bỗng nhiên mưa to, sấm sét ầm ầm; lại thêm mưa đá rào rào mãi đến nửa đêm mới tạnh, đổ nhà đổ cửa không biết bao nhiêu mà kể.

Tháng hai, năm Kiến Ninh thứ tư (169) tỉnh Lạc-dương có động đất, nước bể dâng lên ngập lưng trời, những dân cư ở ven bể bị sóng lớn cuốn trôi đi mất cả.

Năm Quang Hòa thứ nhất (178), một con gà mái tự dưng hóa ra gà sống. Mồng 1 tháng 6 năm ấy, một luồng khí đen dài chừng hơn mười trượng bay vào trong điện Ôn Đức. Qua sang tháng bảy lại có lắm điều gở lạ; cầu vồng mọc ở giữa Ngọc đường; rặng núi Ngũ nguyên bỗng dưng lở sụt xuống”.

Thuyết “Thiên – Nhân cảm ứng” giảng rằng, khi con người hành xử theo chính đạo, tuyên dương cái thiện, xa rời điều ác thì Trời sẽ ban hồng phúc, cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, muôn dân ấm no, nhờ vậy mà vương triều cũng thịnh trị. Ngược lại, nếu con người đi theo đường tà, nhân tâm suy đồi, đạo đức băng hoại thì Trời cao sẽ giáng xuống thiên tai, dịch bệnh, vừa để thanh trừ những người không còn tốt nữa, vừa để đưa ra lời cảnh báo nghiêm khắc với con người. Do đó, thời cổ đại, người ta có thể dễ dàng đoán định được số mệnh của một vương triều, một quốc gia thông qua việc quan sát thiên văn, địa lý, phong thuỷ, đặc biệt là những tín hiệu lạ, những dị tượng.

Gần đây, Trung Quốc xảy ra động đất không ngừng. Ngày 12/7/2020, tại huyện Vu Sơn ở Trùng Khánh, Đường Sơn ở Hà Bắc, châu Hồng Hà ở Vân Nam, châu A Bá ở Tứ Xuyên… đều xảy ra động đất. Trong đó ở Đường Sơn động đất trên 5 độ richter. Xưa nay, động đất là hiện tượng thường xuất hiện trong nhân gian. Nhưng cổ nhân lại cho rằng động đất có thể là điềm báo trước vận mệnh hưng suy của quốc gia.

“Hệ Từ Thượng” trong Chu Dịch nói rằng: “Thiên địa biến hóa, thánh nhân hiệu chi; Thiên thùy tượng, hiện cát hung, thánh nhân tượng chi”. Nghĩa là: Trời đất biến hóa, Thánh nhân phỏng theo đặt ra quẻ Hào. Trời hiển thị thiên tượng, thấy lành dữ, Thánh nhân phỏng theo đặt ra 64 quẻ xem lành dữ”. Các triều đại tại Trung Quốc hàng ngàn năm qua đều dựa vào quan sát sự biến hóa của trời đất mà hiểu được thiên cơ, nhất là những biến hóa lớn khác thường. Người xưa cho rằng đó không phải là điều ngẫu nhiên mà đều là điềm báo, là những dấu hiệu báo trước cát hung, lành dữ cho con người chốn nhân gian. Mỗi hành động của con người đều có sự liên quan mật thiết với Thiên Thượng.

Ảnh minh họa: Shutterstock.

Sự biến đổi của khí trời, thiên tượng có lúc mang đến điềm báo tốt lành, ví như: trời đổ mưa dầm, phượng hoàng bay tới, chính là phản ánh thời phồn thịnh, hoàng kim của vị vua đương tại vị có đức hạnh cao thượng, đem phúc báo và điềm lành tới cho muôn dân bách tính, cũng như vận khí tốt đẹp của quốc gia. Song cũng có lúc trời biểu thị ra hiện tượng xấu, ví như: nạn châu chấu, nhật thực, mưa sao băng, động đất… Đó chính là trời cao đang cảnh báo nhân gian đạo đức suy đồi, bại hoại khiến nhân tâm tha hóa. Đây là vũ trụ quan, triết học quan về sự tác động qua lại giữa con người và Thiên Thượng, chính là “Thiên – Nhân cảm ứng”. Trong lịch sử cũng có thể tìm thấy những câu chuyện thực sự tồn tại có liên quan. Đối với thiên tai động đất mà nói thì chính là điềm báo trước cho sự diệt vong của một quốc gia.

Điềm báo diệt vong cuối thời Hạ, Thương

Như vào cuối thời nhà Hạ, dưới thời Hạ Kiệt đã xảy ra động đất lớn khiến núi Cù Sơn bị sạt lở, nước tích thành đầm lớn, âm dương đảo lộn. Hạ Kiệt tên là Lý Quý, là vị vua thứ 17, cũng là vua cuối cùng của nhà Hạ. Vua Kiệt được cho là bạo chúa đầu tiên được ghi chép trong lịch sử Trung Quốc. Ông sủng ái nàng Muội Hỷ, trong thì bóc lột bách tính để phục vụ thú vui riêng, ngoài thì đem binh đánh dẹp bừa phứa các chư hầu.

Những tội ác của vua Kiệt kể ra thì rất nhiều và rất tàn khốc. Ví như, ông cho dựng nên một cái cột đồng, bôi mỡ trơn rồi nung nóng, hễ ai trái ý nhà vua thì lập tức bị bắt trèo lên cái cột đó, gọi là “bào lạc”. Những tội ác của vua Kiệt khiến Trời giáng rất nhiều tai hoạ xuống để cảnh tỉnh: hai con sông Y, Lạc đột nhiên khô cạn, động đất lớn, mưa thiên thạch, núi sụt lở thành đầm… Hạ Kiệt hoang dâm vô độ, các chư hầu bốn phương nổi dậy như ong vỡ tổ. Bấy giờ Thành Thang làm vua nước Thương, tích trữ lương thảo, binh mã đã lâu, quyết định diệt Hạ, nhà nhà đều đi theo. Năm 1767 TCN, Thương Thang đánh thắng Lý Quý trong trận quyết định ở Minh Điều. Hạ Kiệt thua trận, bị mất ngôi và bị đày ra Nam Sào. Ông nói với thủ hạ:”Ta hối hận không giết Thang ở Hạ Đài nên mới ra nông nỗi này”.  

Nhà Thương diệt nhà Hạ, mở ra cơ nghiệp, nhưng đến cuối cùng lại có một vị vua giẫm vào vết xe đổ của nhà Hạ trước đó: Đế Tân với tên quen thuộc hơn là Trụ Vương. So với Hạ Kiệt thì Trụ Vương không hề thua kém về độ bạo ngược. Khởi đầu, Trụ Vương là một minh quân, thông hiểu sử sách, siêng năng chính trị, đặc biệt rất trọng nông nghiệp, khiến triều Thương phát triển đến đỉnh điểm. Về sau Trụ Vương vì say mê Đát Kỷ, vùi đầu vào tửu sắc mà làm nên nhiều chuyện thương luân bại lý.

Trụ Vương – vị vua cuối cùng đời nhà Thương trong lịch sử Trung Quốc (ảnh: Wikimedia).

Những hành vi bạo ngược của ông có phần còn vượt xa Hạ Kiệt. Tàn nhẫn nhất có thể kể đến các hình phạt như: Sái bồn hay Bào lạc. Sái bồn là đào cái hào to và sâu, sau đó bắt thật nhiều rắn độc bỏ vào, hành hình bằng cách lột hết y phục của nạn nhân rồi xô vào bồn để lũ rắn thay nhau cắn mổ nạn nhân đến chết. Sái Bồn là nơi ông và Đát Kỷ giải sầu bằng việc bày trò đấu vật, các thái giám và cung nữ sẽ đấu với nhau, kẻ thắng sẽ được ban rượu thịt ở Tửu Trì – Nhục Lâm, ai thua sẽ bị ném xuống Sái Bồn cho rắn ăn thịt. Còn Bào lạc là một công cụ chuyên hành hình các quan viên đại thần. Đó là một ống đồng thật to rỗng ruột, bên dưới là miệng lò dùng để chụm than củi vào. Trụ Vương cho hành hình tội nhân bằng cách chất củi nung cho cột đồng nóng đỏ rồi đưa nạn nhân đến dí nguyên người vào ống đồng cho thịt da cháy khét, nạn nhân giãy chết rất thê lương. Ngày qua ngày, Trụ Vương lấy việc giết người làm tiêu khiển, sớm đã quên hết ý chí của một quân vương, ngày càng bị hồ ly Đát Kỷ mê hoặc.

Trời cao cũng đã dùng rất nhiều dị tượng để cảnh báo cho triều đại của Trụ Vương. Trúc thư kỷ niên, một cuốn cổ sử của nước Nguỵ thời Chiến Quốc chép: “Mùa xuân năm Đế Tân thứ 43, núi Nghiêu Sơn sạt lở” (Đế Tân tức là tên gọi của Trụ Vương). Nghiêu Sơn khi ấy sạt lở khiến mấy con sông như sông Vị, sông Kinh và sông Lạc bị chặn dòng chảy.

Các dị tượng khác cũng liên tục xảy ra như: dịch châu chấu, hai mặt trời cùng mọc… Tuy nhiên Trụ Vương đều bỏ ngoài tai tất cả, vẫn vùi đầu vào những thú vui hưởng lạc man rợ của mình. Cuối cùng, Tây bá hầu Cơ Xương mang lòng căm giận, ngấm ngầm xây dựng thế lực riêng. Đến đời Cơ Phát, con Cơ Xương, ông kêu gọi 11 tiểu quốc ở phía Tây cùng mang quân phạt Trụ. Cơ Phát đánh bại Trụ Vương ở trận Mục Dã. Trụ Vương cuối cùng leo lên lộc đài tự vẫn, nhà Thương chính thức diệt vong.

Động đất và ôn dịch thời nhà Minh

Những bài học lịch sử vẫn không ngừng lặp lại, chỉ có điều quân vương có biết hay cố tình quên đi mà thôi. Không chỉ vào thời Hạ, Thương, hàng nghìn năm sau này, vào thời nhà Minh, trước sự sụp đổ của vương triều cũng xảy ra lắm dị tượng. Năm 1641, ôn dịch bùng phát và có khuynh hướng lan rộng tới các khu vực Bắc Kinh, Thiên Tân, Hà Bắc, Giang Tô, Chiết Giang, Thượng Hải, An Huy… vô số người đã chết và tỷ lệ tử vong cao kỷ lục. Một gia đình ban đầu chỉ có một người mắc bệnh, nhưng chỉ sau vài ngày, hàng chục người trong gia đình bị nhiễm bệnh và tất cả đều chết. Bệnh dịch nguy hiểm tới mức người ta cảm thấy như chỉ cần chạm vào người bệnh, ngay lập tức là có thể chết. Thậm chí tất cả cư dân trong một con hẻm đều chết vì căn bệnh này, chứ đừng nói đến việc có bao nhiêu người chết trong một gia đình. Dịch bệnh hoành hành nghiêm trọng mãi cho đến năm 1644.

Trước đó, vào năm 1556, tức năm Gia Tĩnh thứ 34 (1556) xảy ra một trận động đất lớn mang tính huỷ diệt. Người đời sau này thường gọi là “Gia Tĩnh đại địa chấn”. Các nhà khoa học hiện đại căn cứ theo ghi chép trong lịch sử đã tính toán được cường độ động đất lên tới 11 độ richter. Đây có thể coi là trận động đất có sức phá hoại lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc, cũng là trận động đất gây tử vong nhiều nhất trong lịch sử thế giới.

Trận động đất này xảy ra đồng thời tại các khu vực Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Nam và ảnh hưởng đến hơn một nửa lãnh thổ Trung Quốc. Số người thiệt mạng do bị đè, chìm, đói, bệnh tật, cháy không thể đếm được, tấu báo lên triều đình ước chừng có tới 83 vạn người chết, một con số kinh hoàng! Miêu tả trong sử sách cho thấy mức độ nghiêm trọng của trận động đất này. “Đặng Châu chí” thời Thuận Trị viết rằng, chỉ đêm đó Đặng huyện, Nội Hương tại Hà Nam “thấy rõ phong vũ từ tây bắc đến, chim thú đều rống lên, không lâu sau địa chấn tiếng như sấm”. “Hoa Châu chí” biên vào thời Long Khánh (1567-1572) viết rằng, giờ Thân ngày 12, cảm thấy đất chuyển động, khiến chóng mặt, trời tối u ám, và đêm trong nửa tháng sau không có ánh sáng, đất nghiêng ngả, vườn cây ngã đổ xuống đất, chợt thấy ở phía tây nam giống như có vạn xe đột nhiên lồng lên, cũng giống như sấm từ lòng đất phát ra, dân sợ hãi tán loạn, không biết làm sao, tường nhà đều đổ sập. Trận động đất này lớn đến nỗi dư chấn của nó trong nửa năm cứ mỗi tháng lại xảy ra với tần suất 3 – 4 lần và kéo dài trong 5 năm mới yên.

Lúc này Gia Tĩnh Đế, tức Minh Thế Tông. Trong những năm đầu trị nước, Minh Thế Tông chăm lo quốc sự, đưa đến một cục diện hưng khởi cho nhà Minh, sử gọi là “Gia Tĩnh trung hưng”. Dù vậy, khi đã đạt được một số thành quả nhất định, suốt 18 năm cuối triều đại của mình, Minh Thế Tông sa vào ăn chơi hưởng lạc, giao hết quyền hành vào tay gian thần Nghiêm Tung, thậm chí không thèm thiết triều, khiến kỷ cương quốc gia rối loạn, muôn dân lâm vào cảnh lầm than. Quốc lực nhà Minh bắt đầu suy yếu từ đó.

Sau này, các đời vua tiếp nối Minh Thế Tông đều góp một tay đẩy vận mệnh vương triều xuống vực thẳm. Điển hình nhất có thể kể đến Minh Thần Tông, tức “Vạn Lịch đế”. Giống như ông nội của mình, sau thời gian đầu trị vì sáng suốt, Minh Thần Tông bắt đầu lao vào các thú vui hưởng lạc, suốt 20 năm cuối đời không một lần thiết triều. Sử cũ còn có một tên gọi hẳn hoi cho thời kỳ này, gọi là “Vạn Lịch đãi chính” (ý muốn nói là thời gian Hoàng đế Vạn Lịch lười chăm lo triều chính). Quốc lực nhà Minh tiếp tục suy sụp, cuối cùng chỉ 24 năm sau khi Vạn Lịch đế băng hà, nhà Minh sụp đổ. Có thể nói, trận động đất thời Minh Thế Tông được cho là điềm báo trước cho sự kết thúc của vương triều này.  

***

Quốc gia hưng vong đều đã có định số. Con người dù không thừa nhận thì bánh xe lịch sử vẫn lặng lẽ chuyển dời. Khi một vương triều, một chính quyền chuẩn bị đi đến hồi cáo chung, ắt sẽ có dị tượng làm điềm báo trước. Thiên tai xảy ra vừa để đánh thức con người thế nhân đang u mê, lạc lối, vừa để khiển trách nghiêm khắc những tội ác của kẻ cầm quyền.

Xưa nay, “quan nhất thời dân vạn đại”, không thể có một vương triều nào tồn tại mãi mãi. ĐCSTQ ngay từ khi sinh ra đã mang bản tính cướp bóc, tráo trở, lưu manh trong mình. Trong quá trình phát triển, ĐCSTQ không ngừng cướp đoạt chính quyền, cướp đoạt tự do và cướp đoạt mạng sống của người Trung Hoa. Một chính quyền xây nên từ máu của người dân, ngay từ đầu đã là bất chính, vậy thử hỏi nó có thể tồn tại được bao lâu nữa đây?

Sự sụp đổ của ĐCSTQ đã được nhắc tới trong nhiều tiên tri, dự ngôn. Ở ngoài đời thực, mấy năm gần đây Trung Quốc liên tục xảy ra biến loạn, lúc thì thiên tai hoành hành (hạn hán, mưa lũ, động đất), lúc thì dịch bệnh bùng phát, lúc thì nhân hoạ bùng nổ (chiến tranh biên giới Ấn Độ, biểu tình ở Hồng Kông). ĐCSTQ đang hấp hối, như một ngọn nến sắp tắt cố loé lên chút đốm lửa tàn. Là một người lương thiện, phân biệt rõ được chính – tà, thiện – ác, hy vọng rằng bạn sẽ không chọn đứng về phía ĐCSTQ trong giờ phút cuối cùng này…

Từ Khóa: