Sau khi nguyên thần ly thể, thể người không còn bị phong bế bởi nhục thân. Thân thể ở không gian khác có thể thành lớn, thành nhỏ tùy ý. Khi được gia trì, thân thể Khoan Tịnh nhanh chóng trở thành cao lớn, nhưng cũng chỉ cao lên đến chừng rốn của Đức Phật…

Từ năm 1966 – 1976, Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã phát động cuộc “Cách mạng Văn hóa” (gọi tắt là Văn cách) tai tiếng. Có thể nói, đây là một giai đoạn bi thảm và tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại. ĐCSTQ đã gieo rắc một nỗi khiếp sợ nặng nề lên đầu những con người lương thiện có tín tâm đối với Thần linh. Kéo theo nó là một sự hủy hoại nghiêm trọng và suy tàn của nền văn hóa truyền thống và đạo đức của dân tộc Trung Hoa. Những ai đã từng sống trong hoàn cảnh đó đều phải tái mặt khi nhắc lại.

Trong hoàn cảnh cục diện xã hội tàn bạo đó, Thần Phật với sự từ bi vô lượng, muốn mở ra một lối thoát cho những ai còn có tín tâm cầu Đạo. Tại Phúc Kiến khi ấy, có một tăng nhân mang pháp danh là Khoan Tịnh. Vào ngày 25/10/1967, hòa thượng Khoan Tịnh tọa thiền trong động Di Lặc, trên núi Tiên Sơn. Trong lúc nhập tịnh nguyên thần ly thể và được Quan Thế Âm Bồ Tát tiếp dẫn đến thế giới Cực Lạc. Khi trở về, vị hòa thượng đã kể lại một câu chuyện có rất nhiều tình tiết lý thú, li kỳ mà hết sức chân thật về quá trình vân du ở Thiên quốc. Câu chuyện của ông như một tiếng chuông chiều đánh thức cơn mê của chúng sinh trong cõi nhân gian lầm lạc, khuyên con người hướng thiện trong thời mạt kiếp chập chờn mê tỉnh, trắng – đen lẫn lộn, thật giả khó phân…  

Lão tăng có thể ‘Thấu thị’, biết được hết thảy kiếp trước và kiếp sau  

Theo như lời hòa thượng Khoan Tịnh kể lại, ban đầu ông tọa thiền trong tự viện, bỗng nhiên nghe thấy có người gọi và đẩy ông về phía trước. Ông có cảm giác lâng lâng giống như người say rượu, hốt hốt hoảng hoảng bước ra khỏi tự viện và cứ thế bước đi trong trạng thái nhẹ nhẹ, phiêu phiêu. Ông được dẫn đi đến dãy núi Cửu Tiên Sơn (huyện Đức Hoá, Tuyền Châu). Vào thời điểm đó đang là thời kỳ Văn cách, dưới sự kích động của ĐCSTQ, bạo loạn bùng nổ khắp nơi. Những kẻ du côn lưu manh đánh đập và cướp bóc dân chúng không từ một thủ đoạn nào. Nhân dân Trung Quốc lúc bấy giờ luôn phải sống trong cảnh sợ hãi. Ban ngày, người ta không dám ra ngoài mà phải đợi đến đêm khuya mới dám ló mặt ra để tránh bị trấn lột. Tuy nhiên, hòa thượng Khoan Tịnh đã đi suốt một chặng đường dài hơn 200 dặm mà không gặp bất kỳ một trở ngại nào. 

Trên đường đi, ông đã gặp một lão tăng có pháp danh là Viên Quan. Hòa thượng Khoan Tịnh dường như không hay biết gì về lão hòa thượng. Nhưng lão hòa thượng thì có thể nhìn thấu mọi thứ về Khoan Tịnh, chắc như nắm trong lòng bàn tay. Lão tăng bắt đầu kể về kiếp trước của Khoan Tịnh cho ông nghe. Nó như một câu chuyện thần thoại song chính xác đến từng chi tiết kể cả ngày sinh tháng đẻ của Khoan Tịnh. Ông không hiểu vì sao mà lão tăng đó lại có thể nắm rõ mọi chuyện như vậy. Sau khi được Lão hòa thượng đưa đến Thiên quốc, Khoan Tịnh mới biết lão tăng kia thực ra là Quan Âm Bồ Tát hóa thân để tiếp dẫn ông về Thiên Quốc.

Tranh vẽ Bồ Tát thời Hậu Đường (Nguồn: Wikipedia)

Ông kể rằng, Vào ngày 25 tháng 10 năm ấy, ông đến Phúc Kiến và leo lên đỉnh cao nhất của dãy núi Cửu Tiên Sơn, trên đỉnh núi có một hang động gọi là Di Lặc động. Nhưng khi tới đó khung cảnh đã đổi thay, lúc này nguyên thần của ông đã tiến nhập vào một không gian khác. 

Đến tầng trời Đâu Xuất, Khoan tịnh diện kiến hòa thượng Hư Vân

Khoan Tịnh nói, ông đã được Quan Âm Bồ Tát dẫn đường đến Thiên thượng. Ngày thứ tư ông được đưa đến Dục giới. (Dục giới là một thế giới khác trong Tam giới, cùng hai giới còn lại là Sắc giới và Vô sắc giới). Khi đi qua tầng trời này, hiện ra trước mắt ông là một khung cảnh vô cùng hùng vĩ, tráng lệ: cung vàng, điện ngọc đẹp lộng lẫy. Nơi đây còn có rất nhiều chùa bảo tháp được xây cất nguy nga, tỏa ánh hàng quang rực rỡ. Thế giới thiên quốc hiện ra lung linh muôn sắc màu khiến người ta phải choáng ngợp.

Ông tiếp tục trì chú, bước lên một đài sen, cưỡi mây vượt gió bay về phía trước. Khoan Tịnh tiến nhập vào một tầng trời mà ở đó có một tòa thành màu trắng bạc. Khi đi vào cổng thành, ông nhìn thấy một tấm gương lớn. Chiếc gương này có thể soi thấy chủ nguyên thần của một người, là chính hay tà đều được phản chiếu ra hết sức rõ ràng. Khi tiến nhập vào một tầng trời mới, ông thấy các thiên nhân. Họ đều rất cao lớn (ước chừng khoảng ba trượng), trang phục giống như triều đại nhà Minh. Khoan Tịnh còn thấy sư phụ của mình là Hư Vân lão hòa thượng. 

Lại nói về hòa thượng Hư Vân, theo cuốn “Hư Vân hòa thượng tự thập niên phổ”, Hư Vân sinh vào năm Đạo Quang thứ 20 (năm 1840 – 1959), hưởng thượng thọ 120 tuổi. Hư Vân là nhà sư đã sống qua bốn triều đại, từ Mãn Thanh, Thái Bình Thiên Quốc, Trung Hoa Dân Quốc cho đến thời ĐCSTQ nắm chính quyền. Hòa thượng Hư Vân được xem là một vị cao tăng đắc đạo. Năm mười lăm tuổi, Khoan Tịnh đã bái Hư Vân làm thầy, vì vậy xét về mối quan hệ nhân duyên thì hai người là thầy – trò. Hư Vân nói với Khoan Tịnh: “Trong thời kỳ mạt pháp, con cần hết sức cố gắng ở trong hoàn cảnh tối khổ mà cứu độ chúng sinh, đừng ham hưởng lạc, đừng trốn tránh nghịch cảnh…”

Hư Vân hòa thượng (Nguồn: Wikipedia)

Sau khi nghe sư phụ Hư Vân thuyết giảng, Khoan Tịnh được biết vào thời mạt kiếp sẽ có kẻ dùng tà pháp mà mê hoặc lòng người, loạn giải kinh thư, dùng thủ đoạn để dối gạt quần chúng, mưu cầu danh lợi. Những kẻ này đều là “ma chuyển sinh đến thế gian”. Mục đích của chúng chính là hủy hoại con người trong thời kỳ mạt kiếp. Chúng mượn danh nghĩa của Phật làm băng hoại nhân tâm, từ đó mà mất đi lòng thành kính và tín tâm đối với Thần Phật một cách vô lương tâm.

Khoan Tịnh đến Thế giới Cực Lạc chứng kiến sự uy nghiêm của đức Phật 

Trong vũ trụ bao la, thế giới Cực Lạc chính là chính là một trong những thế giới của Phật (Phật giới). Ngoài ra còn có rất nhiều thế giới khác do các vị Phật đà khác cai quản, ví như: Dược Sư Phật có thế giới Lưu Ly, Thích Ca Mâu Ni có thế giới Ta Bà… Tất cả những gì hòa thượng Khoan Tịnh được chứng kiến chỉ là đứng tại cảnh giới giác ngộ của ông mà Phật Pháp triển hiện cho ông được thấy chứ không phải là toàn bộ chân tướng. 

Lại nói về việc Bồ Tát tiếp dẫn Khoan Tịnh đến thế giới Cực Lạc. Nơi đây đâu đâu cũng là vàng, ‘liên hoa tọa hạ kim sa phô địa’ (Cát vàng phủ dưới đài sen). Từng hàng cây đại thụ cao lớn hơn mười trượng, cây nào cây nấy đều là ‘Kim chi ngọc diệp’ (Cành vàng lá ngọc). Khi đứng trước một núi vàng to lớn, Khoan Tịnh thấy một vách núi bằng vàng sừng sững trước mắt. Nghe Bồ Tát nói, ông mới hay đó là chính là một ngón chân cái của Phật A Di Đà. 

Sau khi nguyên thần ly thể, thể người không còn bị phong bế bởi nhục thân. Thân thể ở không gian khác có thể thành lớn, thành nhỏ tùy ý. Khi được gia trì, thân thể Khoan Tịnh nhanh chóng trở thành cao lớn, nhưng cũng chỉ cao lên đến chừng rốn của Đức Phật. Theo miêu tả của hòa thượng Khoan Tịnh: “Phật đà đứng nghiêm trang trên một tòa sen, tầng tầng các cánh hoa sen lại có những bảo tháp và thắng cảnh đẹp vô cùng, tỏa ra muôn vàn ánh kim quang lấp lánh sắc màu. Ở giữa mỗi vòng hào quang lại có một vị Phật tọa ngay ngắn ở giữa ánh hào quang sắc vàng”.

Trên thế gian, không có mấy người được tận mắt ‘mục sở thị’ một vị Phật là như thế nào. Cho nên con người không thể hình dung ra được một vị Phật vĩ đại đến nhường nào, ngay cả một con mắt của Ông cũng rất to lớn. Hòa thượng Khoan Tịnh nói: “Nó (Con mắt của Phật) tựa như một khoảng đại dương mênh mông. Nói ra thật khó tin, nhưng nếu đem so sánh một con mắt của Phật với đại dương ở trái đất thì cũng tương đương”. 

Bức tranh về thế giới Cực Lạc vào thời nhà Thanh hiện đang được lưu giữ trong
Bảo tàng Cung điện Quốc gia ở Đài Bắc.
(Nguồn: Epochtimes)

Ở Phật quốc ông có thể tự do chìm nổi, hoặc trôi đi chỉ thông qua ý niệm. Ông có bay vút lên tầng không, bước lên tòa sen. Những bông hoa sen đều trong suốt như pha lê, phóng thích ra ngoài những ánh sáng lung linh vô cùng đẹp mắt. Đây quả là một thế giới vô cùng tự tại, thánh khiết. Ông phủ phục dưới chân đức Phật A Di Đà, khẩn khoản xin ngài cho được ở lại Thiên quốc. Ông không muốn quay trở lại hạ giới, cõi nhân gian thực sự quá thống khổ. Nhưng Phật A Di Đà thuyết giảng rằng Khoan Tịnh nguyên ban đầu cũng là chúng sinh tại thế giới Cực Lạc. Chính ông đã có ý nguyện muốn đến nhân gian cứu độ chúng sinh thoát khỏi lầm lạc trong bể khổ. Cho nên ông cần phải hoàn thành thệ nguyện của mình rồi mới có thể trở về Thiên quốc.

Đức Phật dặn ông rằng, khi về đến cõi nhân gian hãy đem những gì đã chứng kiến về cảnh tượng hùng tráng trên thiên quốc, truyền đạt lại cho con người, lấy đó mà khuyến thiện nhân tâm. Sau khi dặn dò, Đức Phật cho Bồ Tát đưa Khoan Tịnh đi du ngoạn khắp thiên quốc. Hòa thượng Khoan Tịnh thấy rằng, tất cả các cổng lớn dẫn vào thiên quốc đều được làm bằng châu báu, tỏa ánh sáng lung linh, kỳ ảo. Trên các cổng lớn đều đề chữ, nhưng ông không thể đọc được. Ví như: “Đại hùng bảo điện” bốn chữ này hoàn toàn không giống ở thế gian, cách viết, cách đọc cũng hoàn toàn khác. Những kinh văn mà ông được nghe ở Thiên quốc dù cùng là một bộ kinh thư, nhưng cách phát âm lại không giống hạ giới, về hàm nghĩa cũng hoàn toàn khác biệt.

Khoan Tịnh đến thăm ‘Tịnh quan tháp’ – đài thiên văn của vũ trụ

Tại tầng thấp nhất của thế giới Cực Lạc, ông đã nhìn thấy những sinh mệnh gọi là thiên nhân (người trời). Ông quan sát thấy trên thân họ vẫn còn mang nghiệp lực. Bởi vì trên thế giới Cực Lạc không có khổ đau nên những người này muốn tu luyện để đề cao tầng thứ đều phải trải qua một giai đoạn thời gian rất lâu dài. Có khi mấy trăm năm, thậm chí là cả mấy triệu năm họ vẫn chưa tu lên được. Nếu đem so sánh ở thế gian đầy hiểm ác, thì để tu đến tầng thứ đó bất quá chỉ ba năm đến năm năm là tu thành, thậm chí chỉ trong một khoảng thời gian ngắn đã tu thành. Cho nên có thể nói rằng, con người trong cõi nhân gian đang sống trong một hoàn cảnh tối khổ. Vì vậy, trong quá trình tu luyện, người ta có thể thông qua việc tiêu nghiệp mà tầng thứ được thăng hoa một cách nhanh chóng. Qua việc đối thoại với thiên nhân, Khoan Tịnh đã minh bạch một Pháp lý rằng: “Nhân thân thân nan đắc” (Thân người rất khó được). Ai đắc thân người mà tu luyện, thì quả là may mắn!

Ở thiên cung còn thấy có một tòa ‘Tịnh quan tháp’. Ở tại tầng trời này, ông thấy có rất nhiều chúng sinh đi tới, đi lui đến đỉnh tháp. Ai muốn đến, chỉ cần động niệm liền đến đó ngay. Thiên nhân ở tầng trời này thân thể trong suốt như thủy tinh, họ có thể tự do đi xuyên qua các bức tường, chỉ cần có ý niệm là xuyên qua một cách mau lẹ. Vì không có nhục thể, nên họ có thể phiêu đãng, bồng bềnh trôi lướt đi trong không gian. Mặc dù tại cùng một không gian có rất nhiều người cùng tụ tập, nhưng cũng không va chạm vào nhau, hay chen lấn xô đẩy nhau như ở địa cầu. Bởi vì những sinh mệnh này không tồn tại thân thể, toàn thể đều trong suốt nên cũng không có bất kể một ngăn trở nào. 

Tịnh quan tháp có một công năng thần kỳ, chính là có thể soi chiếu thập phương thế giới, tại tất cả các cảnh giới khác nhau đều phản ánh đến đây. Người ta có thể nhìn thấy hết thảy mọi sự đang diễn ra khi ở trong tòa bảo tháp này. Đối với các tinh cầu và thế giới ở khoảng cách xa thì Tịnh quan tháp khởi tác dụng phóng đại đến vô hạn độ, để chúng sinh có thể thông qua đó mà nhìn được cảnh tượng đang diễn ra ở các không gian trong thế giới khác. Hòa thượng Khoan Tịnh nói: “Ở ‘Tịnh quan tháp’, không có nơi nào là không nhìn thấy được. Nó giống như một đài thiên văn để quan sát vũ trụ vậy”.

Chúng ta đều đã từng nghe những câu truyện thần thoại, truyền thuyết vẫn thường hay nhắc đến một câu nói rằng: “Một ngày phương trời, nghìn năm mặt đất”. Trong vũ trụ bao la vẫn luôn tồn tại những thế giới khác nhau, thời gian và không gian khác nhau. Trong câu chuyện này, hòa thượng Khoan Tịnh cảm giác như mới chỉ đến thế giới Cực Lạc, xem ngắm cảnh tượng trên Thiên quốc vỏn vẹn trong khoảng hơn hai mươi giờ đồng hồ. Ấy thế mà, khi nguyên thần quay trở lại dương gian, chớp mắt tỉnh lại ông nhận ra mình đang tọa thiền trong một hang động, chung quanh tối đen như mực. Ông bước ra khỏi động và lần đi xuống núi. Sau khi xuống núi ông mới phát hiện rằng, thời gian đã trôi qua hơn 5 năm, 5 tháng. Khi đó là, ngày 8/4/1973.

Đến tháng 4/1987, trong một buổi diễn thuyết ở Singapore, hòa thượng Khoan Tịnh đã kể lại chuyện ông từng được Quan Âm Bồ Tát tiếp dẫn đến thế giới Cực Lạc như thế nào cho chúng tăng cùng nghe. Câu chuyện của ông đã được ghi chép lại thành sách, lấy tên là: “Tây phương cực lạc thế giới du ký”. Cuốn sách được lưu truyền từ đó cho đến nay như là minh chứng cho sự kỳ diệu của Phật pháp, của thế giới tâm linh mà con người vốn vẫn dùng lý luận khoa học vô Thần để bài xích.

Theo Epochtimes
Thái Bảo biên dịch