Bộ Tài nguyên – Môi trường đề nghị TP. Đà Nẵng báo cáo về tình trạng cá nhân, DN Trung Quốc sử dụng đất ở vị trí ‘trọng yếu’ về an ninh quốc phòng trước ngày 25/5. 

Theo đó, Bộ này vừa có công văn gửi TP. Đà Nẵng yêu cầu các cơ quan chức năng kiểm tra, xác minh từng trường hợp, xử lý theo quy định của pháp luật và chỉ đạo của Thủ tướng về việc cá nhân, DN Trung Quốc đang nắm các khu đất trọng yếu mà Bộ Quốc phòng đưa ra vài ngày trước, theo báo Lao Động.

2 người Trung Quốc đầu tư cho 8 người Việt “núp bóng” mua đất

Bộ Quốc phòng đã thống kê rõ ràng về việc người Trung Quốc sở hữu đất có vị trí trọng yếu về quốc phòng, an ninh.

Bộ Quốc phòng Việt Nam cho biết, người Trung Quốc đang nắm trong tay hơn 162.000 hecta đất của Việt Nam, đặc biệt là Đà Nẵng với 22 trường hợp.

Cụ thể, từ năm 2011-2015, tại khu vực biên giới biển TP. Đà Nẵng có 134 lô, 1 thửa đất liên quan đến cá nhân, doanh nghiệp người Trung Quốc đang sở hữu, “núp bóng” sở hữu và thuê của TP.

Các lô đất này nằm tại các vị trí dọc các khu đô thị ven biển; ven tường rào sân bay Nước Mặn, đường Hoàng Sa, Võ Nguyên Giáp (thuộc P.Khuê Mỹ, Q.Ngũ Hành Sơn); khu đô thị các phường Phước Mỹ, Thọ Quang (Q.Sơn Trà).

Về cá nhân, là ông Liang Zhipei (Lương Chí Bồi, 45 tuổi), quốc tịch Trung Quốc, từng là kế toán trưởng, nay là Trưởng bộ phận giám sát công trình Công ty TNHH đầu tư và phát triển Silver Shores (trụ sở P. Khuê Mỹ, Q. Ngũ Hành Sơn) và ông Chiu Cheng Tai (A Chiu, 61 tuổi), quốc tịch Đài Loan, Phó giám đốc Công ty TNHH Pu Fong (trụ sở tại P. Thọ Quang, Q. Sơn Trà), đã đầu tư cho người Việt Nam “núp bóng” mua đất.

Từ năm 2011 đến 2015, 2 người này đã đầu tư tiền cho 8 người (trong đó 6 người Việt gốc Hoa) đứng tên mua 84 lô đất với diện tích khoảng 20.000 m2, giá trị giao dịch khoảng trên 100 tỷ đồng.

Về doanh nghiệp, có 7 doanh nghiệp có yếu tố Trung Quốc sở hữu một số lô đất ven biển và thuê đất 50 năm.

Góp vốn bằng đất, sau đó đối tác Trung Quốc “thâu tóm”

Bộ Quốc phòng chỉ ra người Trung Quốc dựa vào 2 cách chính để sở hữu các lô đất ở Đà Nẵng.

Cách thứ nhất, họ thành lập doanh nghiệp liên doanh với Việt Nam. Ban đầu, người Trung Quốc góp vốn thấp hơn người Việt Nam (phần góp vốn của người Việt chủ yếu là giá trị của đất), sau đó tăng vốn và giành quyền điều hành doanh nghiệp, vì vậy, phần tài sản góp vốn là đất của phía Việt Nam trở nên thuộc quyền sở hữu của phía Trung Quốc.

Cách thứ hai, người Trung Quốc đầu tư tiền cho công dân Việt Nam, chủ yếu là người Việt gốc Hoa, để mua đất.