Vấn đề kinh tế Trung Quốc có sụp đổ hay không đã được đem ra tranh luận rất nhiều nhưng vẫn chưa đi đến đâu cả. Những người bảo sụp thì liên tục đưa ra bằng chứng, chứng minh thực trạng kinh tế Trung Quốc không còn thuốc chữa nữa. Những người không tin thì cho rằng nhiều lần nói sụp nhưng vẫn không sụp. Bên nào cũng có cái lý của mình, nhưng khi không thể nhìn bao quát những tiền đề về kinh tế Trung Quốc mà đưa ra kết luận thì không có ý nghĩa gì.

Dù sao, kinh tế Trung Quốc không phải nền kinh tế thị trường theo ý nghĩa truyền thống. Nó là thứ kinh tế của chủ nghĩa tư bản nhưng lại do chính quyền kiểm soát. Nhược điểm lớn nhất của nó là thiếu minh bạch, cũng là thứ thiếu thốn phổ biến nhất trong một xã hội nằm dưới thể chế này. Những số liệu về kinh tế do chính quyền Trung Quốc công bố là không khả tín.

Do vậy, không thể dùng những số liệu này để phân tích tình hình kinh tế thực tế. Ví dụ như tỷ lệ thất nghiệp, con số mà chính quyền Trung Quốc đưa ra là 5%, vừa nhìn là thấy rõ không đúng, thực tế tỷ lệ này có thể lên đến 30 – 40%, làm sao chính quyền Trung Quốc có thể thừa nhận con số này. Số người rời bỏ các ngành nghề truyền thống theo công bố của chính quyền là 1,8 triệu người, nhưng thông tin ngoài nước đưa ra là khoảng 6 triệu người…

Gần đây, trong thời gian “lưỡng hội”, ông Tỉnh trưởng tỉnh Hắc Long Giang tuyên bố công nhân mỏ ở Trung Quốc chưa bao giờ bị nợ lương một ngày nào, nhưng thực tế trước đó đã xảy ra sự kiện gần 10 nghìn công nhân mỏ ở địa cấp thị Song Áp Sơn tỉnh Hắc Long Giang ra đường biểu tình kháng nghị vì bị nợ lương nhiều tháng, vậy mà vị quan to này dám trợn mắt phát biểu giữa đám đông người như thế!

Hiển nhiên, dù tình hình xấu như thế nào thì chính quyền Trung Quốc cũng không bao giờ thừa nhận thất bại, tuyệt đối không thể nhận thua cuộc. Tiêu biểu như nạn đói trong thời Đại nhảy vọt vào thập niên 50 thế kỷ trước làm chết hơn 36 triệu người, thế mà họ vẫn tuyên truyền “lương thực nhiều đến ăn không hết”. Không thừa nhận thất bại, họ đổ trách nhiệm cho nguyên nhân khách quan: do “tự nhiên”, do “Liên Xô ép trả nợ”…

Thử nhìn qua thảm cảnh kinh tế Trung Quốc đang phải đối diện hiện nay: gần nửa số doanh nghiệp bất động sản đã đóng cửa, tình cảnh tương tự cũng xảy ra với những doanh nghiệp xuất khẩu, tỷ lệ thất nghiệp lên đến 32 ~ 40% với khoảng 300 triệu người trở lên, nhiều chính quyền ở các địa phương sớm đã không còn khả năng trả nợ, nguy hiểm tài chính của Trung Quốc là mang tính hệ thống… Đây không còn là vấn đề bí mật, vì đã có một số cơ quan chính quyền Trung Quốc lên tiếng thừa nhận.

Nếu nói cục diện này chưa đến lúc sụp đổ, vậy thì định nghĩa “sụp đổ” là như thế nào? Vì thế, theo hiện trạng kinh tế Trung Quốc hiện nay, việc tuyên bố nó đã hoàn toàn sụp đổ cũng không có gì quá. Vấn đề của kinh tế Trung Quốc không đơn giản là chuyện kinh tế học đơn thuần, không chỉ dựa vào số liệu cũng như lý luận kinh tế học để đưa ra kết luận vì kinh tế gắn liền với nhà cầm quyền. Nên dù thế nào thì chính quyền cũng không bao giờ thừa nhận kinh tế đã sụp đổ, nói vậy khác gì nói đến thể chế đó đã sụp đổ?

Tạm thời chúng ta không bàn đến chuyện chính quyền Trung Quốc có thừa nhận hay không thừa nhận vấn đề kinh tế Trung Quốc đổ vỡ, mà hãy nhìn vào thực tế tình hình kinh tế Trung Quốc. Vấn đề không còn nghi ngờ gì, cảnh khốn cùng của nền kinh tế Trung Quốc hiện nay là rõ ràng, biểu hiện ở thực trạng sản xuất dư thừa và khó khăn về việc làm, ngoài ra họ còn đối diện vấn đề kết cấu nền kinh tế.

Nguy cơ hiện nay hoàn toàn khác với tình hình đầu thập niên 90. Thời đó là do thay đổi mô hình quản lý làm nhiều doanh nghiệp đóng cửa và gây thảm cảnh thất nghiệp. Điều khác biệt với hiện nay là, khi đó Trung Quốc mới mở cửa, đang thu hút nguồn đầu tư lớn từ nước ngoài, nhiều lĩnh vực có trên thị trường lao động quốc tế ồ ạt chảy vào Trung Quốc.

Tình trạng thất nghiệp vào đầu thập niên 90 chủ yếu do sự chuyển đổi cơ chế vận hành, nghĩa là vì vấn đề lợi ích mà nhiều người dân ở tầng đáy xã hội bị sa thải, họ biến thành lao động hợp đồng kiểu mới, tiền lương bị sụt giảm. Vì thế cho dù thời đó xuất hiện làn sóng thất nghiệp quy mô lớn, nhưng về cơ bản thì kinh tế Trung Quốc đi lên.

Tình hình hiện nay hoàn toàn khác, vì Trung Quốc đang đối diện cục diện thoái vốn nước ngoài ồ ạt, giá thành lao động lên cao, giá nguyên vật liệu cũng lên cao, nguy hiểm về hệ thống tài chính là vô cùng nghiêm trọng… Ưu thế của “cỗ xe tam mã” (xuất khẩu, đầu tư, tiêu phí) của kinh tế Trung Quốc hoàn toàn không còn.

Vì thế, nguy cơ lần này, về bản chất là do tệ nạn của thể chế và khung kết cấu, không thể giải quyết trong thời gian ngắn. Nghiêm trọng nhất là những di chứng để lại của một nền kinh tế dựa vào thu hút đầu tư trong hơn thập niên qua.

Theo số liệu công bố của Cục Thống kê quốc gia và khảo sát địa chất Mỹ (National Bureau of Statistics and Geological Survey), lượng xi-măng Trung Quốc sản xuất từ năm 2010 – 2012 bằng tổng số xi-măng do Mỹ sản xuất trong thế kỷ 20. Tình trạng nợ xấu ngân hàng nguy hiểm do ngọn thủy triều bất động sản gây ra, kéo theo hàng loạt doanh nghiệp liên quan bị giải thể… Thảm bại lần này vượt xa thời “Đại nhảy vọt” vào thập niên 50 cũng như giai đoạn chuyển đổi mô hình vào đầu thập niên 90 thế kỷ trước.

Nhiều năm qua nền kinh tế Trung Quốc sở dĩ chiếm thế thượng phong là nhờ xuất khẩu sản phẩm giá rẻ ra thị trường quốc tế, phát triển giả tạo nhờ bán phá giá. Nhưng vì không có chuẩn mực nên không có quyền định giá. Nhiều loại linh kiện kỹ thuật quan trọng phải nhập khẩu. Kinh tế trong nước do đầu tư của chính phủ kích thích, tạo ra hiện tượng bong bóng… Hệ quả của nó không thể giải quyết trong thời gian ngắn, vì phải cải cách triệt từ tận gốc của vấn đề mới có thể giải khai được.

Suy cho cùng, phát triển kinh tế không chỉ dựa vào vài chỉ tiêu hay vài thành quả khoa học mũi nhọn, quan trọng hơn là sự tiến bộ từng phân đoạn của chỉnh thể toàn xã hội và nền kinh tế. Đây lại là chuyện rất khó xảy ra trong một thể chế mà cải cách gì cũng bị động chạm đến lợi ích của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).

Thực chất của phát triển kinh tế Trung Quốc trong gần 30 năm qua là nhờ vào bán máu và mồ hôi của những người dân ở tầng đáy xã hội, vắt kiệt xương tủy của người dân, dựa vào cái gọi là “lợi thế so sánh” của “nhân công giá rẻ, nhân quyền giá rẻ và bất cần bảo vệ môi trường” để xuất khẩu hàng giá rẻ ra thị trường thế giới…

Nhưng khi kinh tế thế giới xảy ra nguy cơ, cơ cấu dịch chuyển và sự ra đời của Hiệp định Thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (TPP), những ngày tháng tươi đẹp của nền kinh tế Trung Quốc đã hết.

Tóm lại, kinh tế Trung Quốc không phải nền kinh tế thị trường thực chất. Sự phát triển của nền kinh tế này trong hơn thập niên qua là do lũng đoạn độc quyền của nhà cầm quyền trong mọi nguồn tài nguyên. Ví dụ như bán “quyền sử dụng đất”, phát triển bừa bãi bất động sản, nhờ chà đạp nhân quyền và nô lệ người dân nên chiếm được thế thượng phong trên thị trường quốc tế do hàng hóa giá rẻ mạt…

Nhưng đây là sự phát triển thiếu bền vững. Sự giàu có của Trung Quốc được đổi bằng máu và mồ hôi của người dân lao động nhưng nó không được đưa vào hoạt động tái sản xuất một cách hiệu quả, cũng không được dùng vào hoạt động phúc lợi xã hội, mà bị vô số con sâu mọt, quan tham trong ĐCSTQ tiêu xài lãng phí, vì thế tiền đồ của Trung Quốc rất u ám!

Thực chất kinh tế Trung Quốc chính là “kế hoạch Ponzi”, chỉ khác là: Chính quyền Trung Quốc lũng đoạn tuyệt đối nguồn tài nguyên xã hội và dùng thủ đoạn trấn áp bạo lực để ngăn chặn thảm họa mọi người cùng kéo nhau tới ngân hàng rút tiền. Vì nếu để xảy ra tình trạng này thì hệ thống ngân hàng sẽ sụp đổ, phải in thêm tiền để đối phó… Nhưng cho dù áp lực thế nào, họ vẫn sẽ tìm cách thực hiện những thủ đoạn hành chính để ngăn ngừa biến động xã hội.

Vì nền kinh tế Trung Quốc quá lớn nên chính quyền có thể dựa vào “mô hình chắp vá” lấy bên này đắp bên kia để ứng phó tạm thời. Ngoài ra, họ còn dựa vào kiểm soát hệ thống tuyên truyền để đưa thông tin không đúng sự thật, tẩy não người dân. Đây là nguyên nhân khiến kinh tế Trung Quốc “đổ nhưng chưa vỡ”.

Vì thế, khi phân tích kinh tế Trung Quốc, chúng ta cần đi ra khỏi vòng luẩn quẩn “đổ vỡ kinh tế Trung Quốc” đơn thuần, vì khi chúng ta thảo luận vấn đề kinh tế Trung Quốc “đã đổ vỡ” hoặc “khi nào đổ vỡ”, thực chất là thảo luận về thủ đoạn của nhà cầm quyền có thể kéo dài được bao lâu trong thực trạng đổ vỡ toàn diện nền kinh tế Trung Quốc.

Theo Chung Thanh, Đại Kỷ Nguyên tiếng Trung
Tinh Vệ biên dịch

Xem thêm: