Chỉ còn hơn hai tuần nữa là cuộc hội nhập mang tên “Cộng đồng kinh tế ASEAN” chính thức có hiệu lực, đúng vào ngày cuối cùng của năm 31/12/2015.

Ý tưởng thành lập Cộng đồng kinh tế của các nước Asean được nhen nhóm từ năm 1997, sau các cuộc thảo luận chi tiết, các quốc gia trong khu vực Asean đã đi đến thống nhất rằng Cộng đồng kinh tế Asean (viết tắt là AEC) sẽ chính thức ra đời vào ngày 31/12/2015 với mục đích  tạo nên một thị trường đơn nhất, một không gian sản xuất chung với 5 yếu tố được lưu chuyển tự do, bao gồm: hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động giữa 10 nước, bao gồm: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines, Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam, Brunei. Thuế suất sẽ  được cắt giảm theo lộ trình, dần dần về 0% gần như với tất cả mặt hàng.

Các nước tham gia vào cộng đồng kinh tế Asean nhận thấy rằng việc tổ chức thống nhất cộng đồng này sẽ làm nên một ASEAN với thị trường lên tới 640 triệu dân và GDP ước tính vào khoảng 2.400 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ bảy thế giới. Theo ước tính của Công ty tư vấn chiến lược hàng đầu thế giới McKinsey & Company,  số lượng các hộ gia đình trung lưu ở khu vực này sẽ tăng gấp đôi, đạt con số vào khoảng 163 triệu hộ trong khoảng thời gian từ 2015 đến 2030. Các nước thuộc AEC có các đặc điểm khác khau nên sẽ có những khó khăn trở ngại khi hội nhập cùng nhau nhưng cũng tạo ra các cơ hội kinh tế lớn.

Ngoài ra, các doanh nghiệp của các nước này còn có cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn như Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, New Zealand thông qua các hiệp định thương mại tự do riêng giữa ASEAN, ví dụ như từ sau ngày 31/12/2015, hầu hết các mặt hàng nhập khẩu trong nội khối ASEAN sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan 0% thông qua các các hiệp định FTA+1 giữa ASEAN với các đối tác. Các mặt hàng xuất khẩu của VN cũng được hưởng ưu đãi thuế quan 0% khi xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand.

Đứng trước cơ hội này, Việt Nam đã có sự chuẩn bị gì về mặt kinh tế và con người, dưới đây là một số phân tích cụ thể:

Về mặt kinh tế

Trong 10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và ASEAN tăng rõ nét, từ 9 tỷ USD vào năm 2003 lên gần 18,47 tỷ USD vào năm 2013. Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường này là nông sản, dầu thô, sắt thép, điện thoại, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện, máy móc thiết bị phụ tùng, xăng dầu các loại. Các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là: Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Singapore và Indonesia. ASEAN trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của VN sau Mỹ và EU, đồng thời là thị trường quan trọng với nhiều tiềm năng.

Tuy nhiên, khi phân tích cụ thể các con số về kim ngạch xuất khẩu nhận thấy có một số vấn đề lớn như sau: 50% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN đến từ dầu thô và gạo, kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng như các linh kiện điện tử, vi tính…có giá trị gia tăng thấp, hàm lượng công nghệ không cao và tuy được Việt Nam đưa vào danh mục giảm thuế từ khá sớm nhưng kim ngạch xuất khẩu không ổn định, chưa có mặt hàng nào tăng kim ngạch liên tục, lại thường trực nguy cơ bị kiện chống bán phá giá. Điều này cho thấy Việt Nam còn cần phải đầu tư hơn nữa về nguồn lực để có thể đa dạng hóa hơn các mặt hàng xuất khẩu để tăng cường năng lực cạnh tranh.

Về hàng hóa nhập khẩu từ ASEAN: Các mặt hàng chính nhập khẩu từ thị trường này là máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện, trong năm 2013 giá trị nhập khẩu đạt 3,74 tỷ USD, tăng 49,1% so với năm 2012; xăng dầu các loại: 2,72 tỷ USD, giảm 39,2%; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng đạt 1,46 tỷ USD, tăng 11,8%; chất dẻo nguyên liệu: 1,14 tỷ USD, tăng 2,5% so với năm 2012. Điều này cho thấy kim ngạch nhập khẩu đang tăng nhanh so với kim ngạch xuất khẩu. Nếu không có những sự cải thiện thì Việt Nam lại có xu hướng trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm của các nước láng giềng. Điều này là đặc biệt đáng lo ngại vì qua điều tra nhận thấy các doanh nghiệp Việt Nam có rất ít hiểu biết về cơ hội và thách thức của việc hội nhập AEC này.

Theo Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore (ISEAS) khi điều tra về nhận thức và sự quan tâm của doanh nghiệp đến AEC ở các quốc gia ASEAN, 76% số doanh nghiệp Việt Nam được hỏi đều không biết về AEC và 94% doanh nghiệp không biết về Biểu đánh giá thực hiện AEC (AEC Scorecard). Các doanh nghiệp này cũng không hiểu rõ những cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam nói chung và với các doanh nghiệp nói riêng khi Việt Nam tham gia vào AEC 2015.

Hơn nữa, có đến 63% doanh nghiệp Việt Nam cho rằng AEC không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít đến việc kinh doanh của mình. Đây là tỷ lệ lớn nhất trong số các quốc gia ASEAN. Những nhận thức hạn hẹp này sẽ khiến chính các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn trong việc tận dụng được các ưu đãi và cơ hội đến từ AEC (như ưu đãi về thuế quan, về thủ tục hải quan, sự công nhận lẫn nhau đối với một số ngành, các ngành được ưu tiên trong ASEAN…). Điều này còn dẫn tới việc doanh nghiệp không nhận thức, không lường trước được những khó khăn và sức ép cạnh tranh khi Việt Nam mở cửa.  

Về mặt nguồn nhân lực

Với việc thành lập AEC, các lao động có kỹ năng được tự do di chuyển giữa 10 quốc gia thành viên ASEAN vì mục tiêu hình thành một mạng lưới sản xuất thống nhất, thị trường lao động có tính kết nối cao và vận hành thông suốt. Việc di chuyển lao động tạo khả năng mang lại lợi ích cho lực lượng lao động như tiền lương, việc làm và sự ổn định cuộc sống. Di chuyển lao động còn phản ánh trình độ cao của mở cửa thị trường lao động cũng như năng lực quản lý lao động của các quốc gia có liên quan vì nó liên quan đến cả vấn đề quản lý lao động di cư của cả quốc gia xuất cư và quốc gia nhập cư.

Mặc dù chưa có các tiêu chuẩn thống nhất trong tất cả các nước ASEAN về thị trường lao động nhưng chắc chắn đây phải là thị trường của những người có chứng chỉ nghề nghiệp hoặc bằng cấp được các nước ASEAN công nhận. Mức độ lành nghề hay tính chuyên nghiệp sẽ được đặt lên hàng đầu và đây được xem là một trong những rào cản kỹ thuật lớn nhất đối với thị trường lao động ASEAN.

Theo báo cáo của Liên hợp quốc  về nguồn nhân lực Việt Nam thì Việt Nam đang ở trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng giai đoạn 2010-2040, đây là giai đoạn nền kinh tế có khả năng cất cánh để trở thành nước công nghiệp. Giai đoạn này của Việt Nam tương tự với Indonesia và Malaysia. Đây là một ưu điểm của  nguồn nhân lực Việt Nam trong việc tham gia vào thị trường lao động AEC. Hiện nay, Việt Nam đang xuất khẩu nhiều lao động sang các nước ASEAN, đặc biệt sang Malaysia với hàng ngàn chỉ tiêu mỗi năm với thu nhập trung bình 150-200USD/tháng với nhiều loại ngành nghề khác nhau, từ đơn giản như giúp việc gia đình đến làm nghề xây dựng.

Hiện nay, nhân lực Việt Nam được đánh giá là có khả năng đảm nhận những công việc kể cả vị trí điều hành khá cao trong doanh nghiệp của các đối tác đầu tư đến từ ASEAN. Bên cạnh đó, có khá nhiều danh mục ngành nghề của Việt Nam và các nước ASEAN là tương tự nhau, do vậy cũng sẽ không có nhiều trở ngại cho người lao động Việt Nam khi làm việc tại môi trường mới, đất nước mới.

Đến nay, ASEAN cũng đã có Hiệp định về di chuyển tự nhiên nhân lực trong ASEAN và thỏa thuận công nhận lẫn nhau về chứng chỉ lành nghề của cơ quan chính thức như: Dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ điều dưỡng, dịch vụ kiến trúc, chứng chỉ giám sát, nhân lực nghề y, nha khoa, kế toán, du lịch. Đây chính là dấu hiệu đáng mừng trong việc cho thấy, tiềm năng đáng kể của lao động Việt Nam trong việc sẵn sàng tham gia cộng đồng ASEAN.

Tuy nhiên, Tổ chức lao động thế giới (ILO) cũng đã chỉ ra những yếu kém của Việt Nam dẫn đến cản trở hoặc làm giảm mức độ sẵn sàng này, đó là:

– Năng suất lao động của Việt Nam còn thấp, cụ thể là năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn 15 lần so với Singapore, bằng 1/5 năng suất lao động của Thái Lan và Malaysia. Đây chính là yếu tố làm giảm khả năng hấp dẫn lao động Việt Nam trước các nhà tuyển dụng nước ngoài.

– Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động Việt Nam chưa đồng đều, trong đó tỷ trọng của trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp chiếm khoảng 50% tổng số lao động. Chỉ số phát triển con người (HDI) cũng khá thấp, là 0,638 trong khi của Singapore là 0,901.

–  Sự chuẩn bị kiến thức, kỹ năng và tâm lý sẵn sàng di chuyển sang làm việc tại các nước ASEAN chưa cao. Chẳng hạn như, chỉ xét về đào tạo ngoại ngữ ở Việt Nam đặc biệt các thành phố lớn, rất ít lao động Việt Nam học các thứ tiếng Thái Lan, Lào, Campuchia hoặc tiếng của các nước ASEAN khác. Thực tế cho thấy, điểm yếu của lao động Việt Nam là thiếu các kỹ năng mềm, như làm việc nhóm, giao tiếp, khả năng ngoại ngữ… Nếu người lao động không nâng cao kỹ năng thì họ có thể mất việc ngay tại sân nhà.

Với các lý do như trên, Việt Nam cần có sự đầu tư nghiêm túc vào đội mũ nhân lực thông qua một loạt các biện pháp như Nhà nước cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về AEC, tiêu chuẩn về lao động có kỹ năng cao, các tiêu chuẩn cụ thể được các nước ASEAN khác công bố và áp dụng, cung cấp thông tin về tình hình lao động các nước. Ngoài ra, cần xây dựng hệ thống công ty đào tạo lao động có kỹ năng cao thuộc các loại ngành nghề được ASEAN công bố; kết hợp với các cơ sở đào tạo, cơ quan cấp chứng chỉ hành nghề nhằm tạo môi trường tốt nhất cho lao động Việt Nam khi tham gia thị trường lao động trong AEC. Các công ty này có thể Tổ chức các khóa đào tạo kỹ năng, tay nghề, rèn luyện thể lực, cường độ và năng suất lao động có thể thực hiện trong vòng 6 tháng đến 12 tháng nhằm rèn luyện các loại kỹ năng cần thiết và cập nhật thông tin để thích nghi với thị trường các nước ASEAN.

Tóm lại, để có thể khai thác được lợi thế khi gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN, Việt Nam cần có những quyết sách mạnh hơn trong việc tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng như của từng cá nhân người lao động trong một thị trường chung thống nhất về sản xuất và tiêu thụ như thế này, nếu không muốn bị rơi vào tình thế bị động và các chính sách đưa ra chỉ là để chữa cháy khi các vấn đề đã bộc lộ hẳn ra.

Nhật Hạ tổng hợp

Xem thêm: