Gần đây dư luận bất bình về một loạt những scandal trong ngành giáo dục: Thầy giáo dạy văn nói tục với học sinh, cô giáo bắt học sinh uống nước giẻ lau bảng, v.v… Có lẽ đã tới lúc trả lại sự tôn nghiêm cho hai chữ “Người Thầy”. Không phải ai tốt nghiệp trường Sư Phạm, đứng trên bục giảng cũng xứng đáng với danh hiệu ấy.

Trong văn hoá truyền thống, người thầy có địa vị cao quý. “Muốn sang thì bắc cầu kiều/ Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”. Lại có câu: “Một ngày làm thầy, suốt đời làm cha”. Đức Khổng Tử, Chu Văn An là hai ví dụ sáng chói về người Thầy được muôn đời tôn kính.

Xã hội cổ đại chia người thầy thành ba cấp bậc: thượng sĩ thuyết về Đạo, trung sĩ giảng về đạo đức, hạ sĩ dạy về kỹ năng. Một người Thầy bậc thượng có khả năng thuyết giảng về Đạo (hay Phật Pháp) và dẫn dắt môn đệ trên con đường tu dưỡng, đắc Đạo. Một người thầy bậc trung tôn vinh đạo đức và giảng cho các đồ đệ về đạo đức. Còn người thầy bậc hạ thì chẳng dạy gì khác ngoài các tiểu năng tiểu thuật, đáp ứng các truy cầu thế tục.

Văn hoá truyền thống coi trọng Đạo và Đức, coi đạo đức là cái gốc của con người, là cơ sở phân biệt người và cầm thú. Bởi vậy nên, nền giáo dục truyền thống đặt trọng tâm vào giáo dục phẩm đức, dạy con người hành xử thuận theo Đạo. Khổng Tử nói: “Con em (thanh niên) ở trong nhà thì hiếu, thảo với cha mẹ, ra ngoài thì kính nhường bậc huynh trưởng, thận trọng lời nói mà thành thực, yêu khắp mọi người mà gần gũi người nhân đức; làm được thế vậy rồi mà còn dư sức thì sẽ học văn (tức học Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch…)”. Theo đó, người Thầy trong xã hội truyền thống trước hết phải là tấm gương về đức hạnh.

Một người Thầy bậc thượng có khả năng thuyết giảng về Đạo (hay Phật Pháp) và dẫn dắt môn đệ trên con đường tu dưỡng, đắc Đạo. (Ảnh: tinhhoa.net)

Yêu thương người khác (“Nhân”)

Sách Luận Ngữ chép: “Từ triều về nhà, nghe tin chuồng ngựa cháy, Khổng Tử nói: “Có ai bị thương không?” Ông không hề hỏi về Ngựa”.

Câu chuyện nhỏ đã nói lên được lòng nhân từ của Khổng Tử. Văn hoá truyền thống quý trọng sinh mệnh con người, coi con người là anh linh của vạn vật, là một trong tam tài Thiên – Địa – Nhân. Bởi vậy nên, Phật gia giảng “lấy Thiện đãi người”, Nho gia giảng “Việc gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”. Một người Thầy chân chính thấm nhuần văn hoá truyền thống hẳn sẽ không bắt học sinh uống nước giẻ lau bảng, vì bản thân ông chắc chắn không muốn uống thứ nước này.

Cung kính, trang nghiêm, lễ nghi, ôn hoà

Trong vụ việc thầy giáo dạy Văn nói tục với học sinh, khó có thể tin những từ ngữ dơ bẩn ấy lại phát ra từ miệng của một thầy giáo, đặc biệt lại là thầy dạy Văn – môn học đại diện cho cái Đẹp, cái nhân văn.

Nếu như Trung Quốc từng được mệnh danh là “lễ nghi chi bang” (mảnh đất lễ nghi) thì Việt Nam cũng có 4000 năm văn hiến. Người Việt Nam xưa chú trọng lễ tiết, thái độ khiêm tốn, lời nói kính cẩn, thần sắc ôn hoà. Đặc biệt, các thầy đồ Nho lại càng coi trọng phong thái nho nhã, khiêm cung, làm gương cho học trò.

Khi Chu Văn An mất, vua Trần ban tặng cho ông tên thụy là Văn Trinh. Ngô Thế Vinh, nhà văn học nổi tiếng thế kỷ 19 trong bài văn bia ở đền Phương Sơn đã thích nghĩa hai chữ “Văn Trinh” như sau: Văn là sự bên ngoài (thuần nhất) của đức, Trinh là tính chính trực, kiên địch của đức (Văn, đức chi biểu dã; Trinh, đức chỉ chính cổ dã). Tên thụy như vậy nhằm biểu dương một người đã kết hợp được hai mặt của đạo đức: bên ngoài thuần nhã, hiền hòa với bên trong chính trực, kiên định.

Còn Tư Mã Thiên thì chép về Khổng Phu Tử như sau:

“Lúc ở tôn miếu, triều đình nói với các quan thượng đại phu thì nghiêm trang, nói với các quan dưới thì hòa nhã. Đi vào cửa công thì lom khom rảo bước, hai tay dang ra như hai cánh. Khi nhà vua gọi đến để tiếp khách thì sắc mặt thay đổi, khi nhà vua mời thì đi không đợi thắng xe. Cá ươn, thịt hôi, hay không cắt ngay ngắn thì không ăn, chiếu trải không ngay ngắn thì không ngồi. Khi bên cạnh có người có tang thì không bao giờ ăn no. Ngày nào khóc thì không ca hát, thấy người để tang hay người mù thì tuy đó là trẻ em cũng tỏ ra kính trọng”.

Khổng Tử được suy tôn như một trong những nhà khai sáng Nho giáo, đồng thời là giảng sư và triết gia lỗi lạc bậc nhất cõi Á Đông. (Ảnh: dailymotion.com)

Trong sạch, đoan chính

“Vạn ác dâm vi thủ” (Trong trăm điều ác, tà dâm đứng đầu). Từ xưa, những bậc nhân sĩ có đạo đức, có hàm dưỡng đều lấy thanh tịnh làm gốc, luôn giữ tâm thành kính, dùng đức hạnh trong sạch để bồi dưỡng bản thân và dùng tâm chính khí hạo nhiên để kiềm chế ác dục. Vì “háo sắc tham dục” là việc làm trái với thiên lý nhân luân, họa loạn thường đạo, Trời đất không dung, Thần Phật phẫn nộ. “Đoan chính được phúc đức, tham sắc bị tai hoạ”, trong lịch sử có nhiều câu chuyện minh chứng cho luật nhân quả báo ứng này.

Vào thời nhà Minh ở Ninh Ba có một thư sinh tên là Tôn Hậu, vì gia đình nghèo túng nên phải qua sông để dạy học, kiếm kế sinh nhai. Về sau ngay cả công việc này cũng bị mất, nên đành đến nhà Trương Thị ở Đường Tây để giúp việc ghi chép, đổi lấy cái ăn cái mặc.

Một hôm đêm khuya thanh vắng, một người tỳ nữ nhà họ Trương lén lút chạy đến phòng của Tôn Hậu, anh biết ý liền lớn tiếng quở trách từ chối rằng: “Thái thượng cảm ứng biên” có nói, các vị thần Tam Đài, Bắc Đẩu, Tam Hộ luôn đi theo để giám sát lỗi lầm của mỗi người, lẽ nào đêm khuya thanh vắng thì thiên thượng không biết hay sao?”. Nhưng ông thầy trong nhà họ Trương chứng kiến cảnh này liền tư thông với tỳ nữ kia. Đến Tết Đoan Ngọ, thì ông thầy này phát bệnh không thể chữa khỏi, lúc này chủ nhà liền mời Tôn Hậu lên làm thầy giáo.

Một hôm, Tôn Hậu khi đang ở cửa sông thì gặp chú của người thầy kia, ông chú kinh ngạc nói: “Ta vì bệnh của con trai mà đã đến cầu xin ở miếu thành hoàng, đêm đó liền nằm mơ thấy rằng, Thành hoàng ngồi trong điện, gọi thuộc hạ đem đổi tên của người sẽ bị định là chết đói ra sửa, từng cái tên được đọc lên, đọc đến khoảng mười mấy người thì tôi nghe thấy tên anh. Tôi liền khẽ hỏi vị quan kia, tại sao Tôn Hậu lại có thể được thay đổi mệnh chết đói? Vị quan đó nói: “Bản mệnh của người này vốn chỉ là đến năm 46 tuổi sẽ bị tha hương chết đói. Nhưng vì vào đêm khuya ngày mười tám tháng tư năm nay, anh ta kiên quyết từ chối người tỳ nữ tham dâm nên được chuyển từ sổ chết đói sang sổ lộc”.

Vì kiên quyết từ chối người tỳ nữ tham dâm nên Tôn Hậu đã được chuyển từ sổ chết đói sang sổ lộc. (Ảnh minh họa: xuehua.us)

Về sau, Tôn Hậu ngày càng có nhiều học sinh theo học, mỗi năm học sinh đóng hơn trăm lạng vàng tiền học phí. Đến năm Vạn Lịch ba mươi sáu nhà Minh, Tôn Hậu 46 tuổi, cũng chính là năm mà ông lẽ ra phải bị chết đói, quả nhiên năm đó mất mùa, giá gạo tăng cao, người nghèo không có tiền mua nên có rất nhiều người bị chết đói. Nhưng Tôn Hậu không những qua được kiếp nạn này mà còn rất sung túc, đến những năm cuối đời, Tôn phủ đã trở thành một gia tộc giàu có. Khi ông bảy mươi tuổi thì qua đời mà không có bệnh tật gì.

Ngày nay, nhiều người không còn tin nhân quả, Trời không sợ Đất không sợ, mặc sức phóng túng hành vi không khác gì cầm thú. Những vụ án “thầy giáo” lạm dụng tình dục nữ sinh không còn hiếm, chính là do luân lý đạo đức bị xói mòn, tín ngưỡng vào Thần Phật bị phỉ báng thành “mê tín”.

***

Có câu: “Minh sư như đèn sáng”, một người thầy đức hạnh sáng suốt như ngọn đèn soi đường chỉ lối cho chúng ta trên con đường học tập, tu dưỡng bản thân trở thành người tài đức. Ngược lại, một người thầy vô đạo đức sẽ dẫn học trò vào nẻo tối, không thể thành người, thậm chí để lại vết thương không bao giờ lành trong tâm hồn con trẻ. Bởi thế, việc đào tạo bồi dưỡng, tuyển chọn những người đứng trên bục giảng là vô cùng quan trọng, thậm chí sống còn đối với tương lai của đất nước. Mà trong đó, đạo đức phải là tiêu chí đặt lên hàng đầu.

Thanh Ngọc