“Chúa Trời có thể làm cho tất cả mọi người đều giàu có, nhưng ông muốn thế giới này có người nghèo để người giàu có cơ hội để chuộc lỗi của họ”

(Cuộc đời của Thánh Eloi)

Các em bé nghèo vùng cao hạnh phúc khi nhận những quyển sách giáo khoa cũ (Ảnh: giaoduc.net.vn)

Trong những tháng gần đây, chủ đề  hỗ trợ người nghèo chiếm một vị trí đáng kể trong dư luận xã hội. Ý kiến của một số người có khuynh hướng phân biệt  rõ ràng những người được coi xứng đáng hỗ trợ và những kẻ lười biếng, ăn không ngồi rồi. Tư duy này thực sự phản ánh một tranh luận rất cũ thời trung cổ, về “nghèo tốt” và “nghèo xấu”.

Khi nào “người nghèo tốt” bắt đầu được yêu thương?

Những năm 2000 chứng kiến sự gia tăng các hiệp hội nhằm giúp đỡ những người khó khăn. Người nghèo khi đó được nhìn nhận như những người bất hạnh nhưng là người tốt và cần được giúp đỡ.

Giúp đỡ người nghèo, vì đâu?

Những em bé nghèo vùng cao quây quầy bên đống lửa trong giá rét mùa đông (Ảnh: dansinh.vn)

Vào nửa đầu thế kỷ 14, người nghèo được nhìn nhận không chỉ là người bất hạnh, nạn nhân của sự khắc nghiệt của thời gian, mà còn được coi như một hình ảnh của Chúa, những thánh đồ xuống thế gian chịu khổ chịu nạn để cứu vớt con người.

Chúa Jêsus đã nói, “Những gì con làm cho những con chiên nhỏ bé nhất của ta, chính là con làm điều ấy cho ta”, những người Cơ đốc giáo nhìn nhận gúp đỡ như một cách cứu rỗi và coi đây là một việc nhân từ, thể hiện bản tính thiện lương và từ bi tiên thiên của một con người. 

Chúa Jêsus đã nói, “Những gì con làm cho những con chiên nhỏ bé nhất của ta, chính là con làm điều ấy cho ta” (Ảnh: tinnguong.vn)

Từ đó, nghèo và những hoạt động hỗ trợ người nghèo đã thăng hoa. Hình ảnh thể hiện ở thời xưa là người lính Martin, đã rủ lòng thương trước một người nghèo đang chịu rét lạnh, đã cho người đó nửa chiếc áo choàng của mình.

Thánh Martin chia sẻ áo khoác của mình, BNF, Great Hours Anne de Bretagne, fol. 387, thu nhỏ của Jean Bourdichon (thế kỷ thứ mười sáu).

Giám mục trong thế kỷ thứ chín, Hincmar de Reims định nghĩa về nghèo khổ, không giới hạn chỉ ở sự bần cùng về vật chất, theo ông, nghèo khổ cũng xuất phát từ tất cả những điểm yếu mà người khác có thể lợi dụng một cách bất công nhằm mang lợi lộc cho mình.

Một phần thu nhập của nhà thờ Giáo Hội khi ấy được dành để trợ giúp người nghèo. Các giám mục phân chia cho người nghèo một phần tư thu nhập của họ, các linh mục giáo xứ một phần ba; còn đối với các tu viện, tỷ lệ này thay đổi tùy theo từng nơi.

Nhưng họ chỉ có thể giúp một lượng cố định người nghèo, những người được ghi danh vào sổ được kiểm soát chặt chẽ.

Những giáo sĩ – như nhân viên trợ cấp xã hội thực sự cẩn thận lựa chọn người nghèo cần giúp đỡ. Họ trợ giúp suốt đời cho người bệnh, người già và người tàn tật, những người không thể làm việc.

Còn giúp tạm thời cho người bất hạnh bị đẩy ra đường, trong thời gian người này khôi phục lại gia cảnh. Đổi lại, những người nghèo này làm các dịch vụ nhỏ cho nhà thờ.

Nhưng sự tăng trưởng dân số ở phương Tây từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 14 làm thu nhập của giáo hội không đủ trợ cấp cho người nghèo. Giống như sau hai cuộc khủng hoảng dầu lửa năm 1973 và 1979, người ta đã tổ chức chặt chẽ hơn sự trợ giúp từ các nguồn hảo tâm.

Các em bé nghèo vùng cao (Ảnh: dongcam.vn)

Từ thế kỷ thứ 9 và đặc biệt là sau thế kỷ thứ 11, các bệnh viện hoặc các tổ chức cứu trợ gia tăng số lượng.

Các tổ chức này cho người nghèo và người bệnh ăn và ở, và không liên quan nhiều nữa đến thu nhập thường xuyên của các giáo sĩ, mà nguồn là do trợ cấp của một nhà giàu sáng lập, cũng như những  đóng góp khiêm tốn hơn nhưng thường xuyên từ các nhà hảo tâm.

(Ảnh: tfsfonayliyarismalar.org)

Hình tượng thánh thiện của “người nghèo tốt” vẫn còn hiện hữu, nhưng người ta phân biệt người tàn tật nghèo với người khỏe- là người  thất nghiệp hay không, được coi là người ăn không ngồi rồi và bị loại bỏ khỏi trợ cấp.

Trước sự gia tăng của người nghèo, xã hội hiện nay do dự một mặt giữa sự thương hại và sự trợ giúp, và mặt khác, giữa bãi bỏ và giữ lại. 

Khi nào người ta bắt đầu khó chịu với ‘người nghèo’? 

Kể từ thế kỷ 14, số người nghèo tăng lên nhanh chóng cùng với sự gia tăng các  cuộc khủng hoảng kinh tế và dịch bệnh. Lớn nhất là dịch hạch  năm 1348. Nhưng  trước đại dịch này, phương Tây trải qua thời kỳ “thiếu đói” do mùa màng thất bát, do đất đai hạn chế trong khi dân số gia tăng. Tình hình này đẩy nhiều người ra đường.

Nông dân rời khỏi đồng ruộng ra thành phố, làm nở rộ dòng người di cư, những người bán sức lao động. Những người ăn xin và lang thang tăng lên nhanh chóng: một tình huống mà các thế kỷ trước đó chưa từng biết đến.

Người nghèo có khuynh hướng trở thành một hình ảnh không mong muốn khi số người túng thiếu tăng lên. Người nghèo được trợ giúp là những người đã quen biết trong cộng đồng, được các tổ chức tình huynh đệ hay bệnh viện trợ cấp.

Nhưng vấn đề đặt ra đặc biệt đối với những người ở bên lề của các tổ chức này, họ là những người lang thang.

Từ người nghèo ngoan đạo trong các thế kỷ trước, được thay thế bằng hình ảnh của người “nghèo xấu”, những người lang thang ăn bám và nguy hiểm. Thực tế người nghèo rất nhiều và bởi họ chẳng có gì để mất, nên họ nhanh chóng bày tỏ sự không hài lòng  bằng cuộc nổi loạn.

Năm 1494, Sébastient Brant đã viết Con thuyền của những người điên (Nef des fous), một cuốn sách bi quan, trong đó ông mô tả xã hội như một con tàu, với những rối loạn xã hội, đang chìm không thể cứu vãn. Một cuốn sách gợi cho thấy biết bao hình ảnh  của xã hội đang đi xuống. Trong số những cái xấu của xã hội, Brant phản ánh chua cay và mỉa mai những người “nghèo xấu” và sự trợ giúp cho tất cả các loại nghèo túng:

“Nef des fous”, Stadtbibliohek Nürnberg. (Con tàu của những người điên, Sébastien Brant)

Một số người ăn xin khi đang trẻ  khỏe, đầy sức lực có thể lao động: tại sao không đi làm […] Tất cả những kẻ tàn tật giả mạo và những kẻ đáng treo cổ lang thang trong các hội chợ. […] Một người khác ban ngày kéo lê  trên cái nạng, nhưng khi chỉ có một mình, anh ta đi một lèo nhanh nhẹn hoạt bát

Đồng thời, các thành phố thường xuyên săn đuổi người nghèo sống ở đây. Sống trên đường phố, những con người bất hạnh lang thang từ thị trấn này sang thị trấn khác, giống như người nhập cư ngày nay sống phập phồng theo việc tháo dỡ các lều trại tạm và những khu nhà ổ chuột.

Bên cạnh những người không phản đối người vô gia cư, thì có những nhóm thường chốt bảo vệ những con ngõ hẻm để ngăn chặn “người lạ” lọt vào bên trong.

Người vô gia cư (Ảnh: nguoivogiacu.com)

Người nghèo là “tốt” và xứng đáng được thương xót khi họ không quá nhiều và khi nền kinh tế của xã hội đủ để giúp họ. Hoạt động này giống như một bản báo cáo hay: thật dễ dàng thể hiện lòng tốt và sự đoàn kết với một ít chi phí.

Mặt khác, các cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến việc gia tăng người nghèo, và việc giúp họ  trở nên khó khăn hơn. Sự hiện diện của họ trong cuộc sống hàng ngày làm gia tăng cảm giác về sự bấp bênh, nguy hại tới nền kinh tế…

Tất cả những ai vẫn có thể tự nuôi sống bản thân nhưng bị đe dọa rơi vào tình trạng bấp bênh, là nguy cơ làm gia tăng người nghèo trên đường phố. Khi đó, cái nhìn về người nghèo trở nên khó chịu hơn, và người ta cố gắng đẩy họ ra khỏi tầm nhìn của mình. Đồng thời, người ta còn tổ chức bàn luận về “người nghèo xấu”,  trách nhiệm để giúp đỡ, hỗ trợ và làm sao để tránh xung đột đạo đức khi trục xuất họ ra khỏi thành phố.

Rốt cuộc, người nghèo thực sự có phải vì họ lựa chọn muốn nghèo, vì họ lười biếng, hay kém cỏi? Có lẽ không phải hoàn toàn như vậy? Tất cả chỉ là những con đường khác nhau của các số mệnh và sẽ là tốt đẹp nhất nếu mỗi người chúng ta nhìn mọi người xung quanh bằng con mắt bao dung, giúp đỡ họ nhưng không sống thay cuộc đời của họ…

Hạo Nhiên- Hà Phương

Có thể bạn quan tâm:

Thể Loại: Góc nhìn ĐKN


CLIP HAY

Ad will display in 09 seconds

  • Nghệ thuật đỉnh cao xuất phát từ trái tim thuần tịnh

    Nghệ thuật đỉnh cao xuất phát từ trái tim thuần tịnh

    Chẳng biết tự bao giờ, âm nhạc đã là một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội loài người. Vượt qua mọi rào cản về ngôn ngữ, sắc tộc, giới tính, giai tầng, những bản nhạc thiện lành, thuần khiết ...