Làm cách nào mà trong trận sóng thần huỷ diệt năm 2004, các loài vật như thỏ, mèo và voi lại hành xử kịp thời và chính xác hơn cả những thiết bị tối tân nhất của khoa học hiện đại..?

Albert Einstein nói rằng “Thứ duy nhất thực sự có giá trị là trực giác”. Ông tin vào trực giác và cảm hứng. “Những lúc đó tôi cảm thấy chắc chắn tôi đúng mặc dù không hiểu tại sao”. Ông còn mô tả tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng.

Blaise Pascal gọi trực giác bằng một cái tên văn vẻ hơn, “lý lẽ của trái tim”. Ông nói: “Trái tim có những lý lẽ mà lý lẽ chẳng hiểu gì cả”. Pascal không chỉ có trực giác khoa học thiên tài, mà còn có trực giác tâm linh sâu sắc đến mức ông cho rằng ai không có đức tin sẽ thiệt thòi. Ông nói: “Nếu Chúa không tồn tại, thì dẫu sao bạn cũng chẳng mất gì khi tin Ngài; nhưng nếu Chúa tồn tại, bạn sẽ phải chịu mất tất cả nếu không tin Ngài”. Ông cho rằng biết có Chúa chưa đủ. Phải yêu kính Chúa mới thật sự là có đức tin. Ông nói: “Từ chỗ biết Chúa đến chỗ yêu kính Chúa vẫn còn quá xa”.

Louis Pasteur là người có trực giác thiên tài khi tiên đoán rằng tính bất đối xứng (thuận tay trái) là đặc trưng của sự sống. Sau hơn một thế kỷ rưỡi kể từ khi ông nêu lên nhận định đó, toàn thể giới sinh học đều thừa nhận đó là một định luật của sự sống. Pasteur nhắc nhở chúng ta rằng: “Trực giác chỉ đến với những ai đã dày công chuẩn bị để đón nhận nó”.

Thí nghiệm bí ẩn

“Vui sướng; giận dữ; vui sướng … nhất định là vui sướng”. Một bệnh nhân 52 tuổi bị mù, được cho xem các bức ảnh chụp những khuôn mặt biểu hiện sự sợ hãi, vui sướng, các cảm xúc khác nhau; và ông nhận thức được chúng chính xác ở một mức độ cao hơn nhiều so với tỷ lệ đoán mò một cách ngẫu nhiên.

Một chiếc máy theo dõi bộ não của ông, cho thấy ông không hề đoán các nét mặt một cách ngẫu nhiên; mặc dù ông đã bị hai lần xuất huyết não gây tổn thương nghiêm trọng trung tâm xử lý hình ảnh của bộ não. Liệu có phải tồn tại một cách “nhìn” khác mắt thường hay không? Có chăng một “chế độ nhận biết” chưa được phát hiện ra?

Tiến sỹ Alan Pegna từ trường Đại học New South Wales, Australia và nhóm nghiên cứu của ông tại Geneva (Thụy Sĩ) đã kinh ngạc trước những kết quả thấy được trong nghiên cứu này. Trong quá trình chụp cắt lớp, não của Bệnh nhân X cho thấy hoạt động rõ rệt trong vùng hạch hạnh nhân (amygdala) bên phải. Kết quả này giống hệt với một đối tượng nghiên cứu có bộ não không bị tổn thương tham gia cùng một hoạt động đó.

Chỉ có thể là trực giác

Đối với nhiều bác sĩ thần kinh học, những trải nghiệm với Bệnh nhân 52 tuổi bị mù gợi ý về một khả năng thú vị – thêm một giác quan nữa vào năm giác quan đã được biết đến – giác quan thứ sáu hay còn gọi là trực giác vốn đã được biết đến từ lâu.

Giác quan thứ 6 được hiểu là khả năng tiếp nhận thông tin của một con người bởi một kênh siêu nhiên vượt trội, nó mạnh hơn rất nhiều so với 5 giác quan còn lại của con người. Và đây cũng không phải tên của một loại giác quan cụ thể.
Giác quan thứ 6 được hiểu là khả năng tiếp nhận thông tin của một con người bởi một kênh siêu nhiên vượt trội, nó mạnh hơn rất nhiều so với 5 giác quan còn lại của con người. Và đây cũng không phải tên của một loại giác quan cụ thể (ảnh chụp màn hình thamtutu).

Mặc dù trực giác ít được khoa học công nhận trong thế kỷ 20, sự thừa nhận về khả năng này đã tăng lên trong lĩnh vực sinh lý học thần kinh (neurophysiology) trong những năm gần đây. Trực giác là khả năng biết về những điều chưa xảy ra, sự việc trong tương lai xa, hoặc những thay đổi sắp đến trong môi trường xung quanh. Tất cả các dân tộc trên khắp thế giới hàng nghìn năm qua vẫn công nhận trực giác – bất chấp sự bác bỏ và hoài nghi của giới khoa học.

Khả năng siêu nhạy cảm

Sau trận sóng thần năm 2004 ở Châu Á, một viên chức chính phủ Sri Lanka quan sát hiện tượng kỳ lạ “Biển đẩy lên hàng trăm xác người, nhưng không có xác một con voi nào. Cũng không tìm thấy thậm chí một con mèo hay một con thỏ nào… rất kỳ lạ là không có cái chết nào của động vật được ghi nhận”.

Liệu động vật có khả năng cảm nhận nguy hiểm sắp xảy ra? Chúng đã chạy thoát khỏi trận sóng thần như thế nào? Chỉ vài phút trước khi biển dâng lên, cuốn phăng hơn hai dặm đất liền, các động vật sống đã chạy thục mạng tới những vùng đất cao của hòn đảo.

Cùng lúc đó, những bộ lạc thổ dân trong vùng, có 60.000 năm tiếp xúc với môi trường tự nhiên, đã bắt chước theo hành vi của các loài động vật và cũng chạy trốn đến khu đất cao hơn. Kết quả là hầu như tất cả những thổ dân địa phương đều sống sót thoát khỏi dòng nước hung dữ.

Nhưng chính xác là làm thế nào mà những thổ dân địa phương và các loài động vật nhận biết được mối đe dọa sắp xảy ra? Liệu có hợp lý không nếu cho rằng trực giác chính là câu trả lời? Và nếu quả đúng như vậy, thì cơ chế sinh học bí ẩn này hoạt động như thế nào?

Sống gần gũi với thế giới tự nhiên

Câu trả lời không hề dễ dàng. Theo một số nhà nghiên cứu, trải qua nhiều năm, những người dân bản địa trên đảo đã đúc kết các bài học quan trọng từ việc sống rất gần gũi với thế giới tự nhiên.

Ví dụ, họ cảm thấy được tiếng bước chân của các con voi hoang dã dội đến khi chúng chạy nhanh về phía sâu trong đảo, và cũng chú ý đến hành vi kỳ lạ của cá heo, kỳ nhông, và việc các loài chim trên đảo bay lên hốt hoảng. Bằng cách này, họ đã nhận biết được một cách hiệu quả những gì mà các hệ thống ra-đa hiện đại không làm được, những thứ đã không thực hiện được chức năng của nó vào cái ngày xảy ra trận sóng thần.

Theo một bài báo trên ấn phẩm nổi tiếng Science (Khoa học), các nhà nghiên cứu từ Đại học Washington, St. Louis, nói rằng bí quyết để lường trước những sự việc này của những người bản xứ nằm ở một vùng não gọi là vùng đai phía trước. Khu vực não này hoạt động tích cực trong các tình huống thay đổi môi trường mà không thể nhận thấy bằng ý thức, nhưng lại cần thiết cho sự sinh tồn của cá nhân.

Albert Einstein (14 tháng 3 năm 1879 – 18 tháng 4 năm 1955) là nhà vật lý lý thuyết người Đức, người đã phát triển thuyết tương đối tổng quát, một trong hai trụ cột của vật lý hiện đại (trụ cột còn lại là cơ học lượng tử).
Einstein nói “Thứ duy nhất thực sự có giá trị là trực giác” (ảnh sưu tầm).

Nhưng động vật đã trực cảm về trận sóng thần đang đến như thế nào? Một số nhà nghiên cứu động vật đề xuất rằng các manh mối chẳng hạn như những thay đổi áp suất không khí, các rung động nhẹ cảm nhận được phát ra từ mặt đất, hoặc các âm thanh rất nhỏ của các con sóng đang đến gần – những dấu hiệu mà các giác quan bình thường của con người không thể nhận thấy – có thể giúp một số sinh vật cảm nhận được về nguy hiểm đang đến.

Tuy vậy, nhiều nhà khoa học tin rằng, trong trường hợp này cũng như với bệnh nhân 52 tuổi bị mù; hẳn là có tồn tại một cách thức khác mà thông qua nó các sinh vật sống có thể nhận biết được môi trường của chúng; khác với thông qua âm thanh, rung động, hình ảnh, hoặc mùi vị. Có tài liệu ghi chép lại rằng các loài chim và các loài động vật khác đã rời khỏi một khu vực; ngay trước khi núi lửa phun trào.

Cũng bằng cách như vậy, các nhà sinh vật học Trung Quốc đã thực hiện các nghiên cứu xác định rằng: vài phút trước một trận động đất, các con mèo, chó, và các loài vật nuôi trong nhà khác trong một khu vực trở nên khá kích động; và trong một số trường hợp thậm chí tru lên, sủa hoặc kêu lên một cách khó bảo. Các nhà nghiên cứu miêu tả rằng trong những lúc đó; các con rắn rời khỏi hang, các con chim bay loạn trong lồng và các con chuột thì chạy tán loạn.

Một khả năng tiềm tàng

Đó là một thí nghiệm ban đầu khá đơn giản, bao gồm 40 tình nguyện viên và hai thợ chụp ảnh. Người chỉ đạo thí nghiệm, Ronald Rensik, Phó Giáo sư về Khoa học Máy tính và Tâm lý học tại Đại học British Columbia; mô tả các vụ tai nạn ô tô đã xảy ra như thế nào trong các trường hợp mà ở đó các lái xe có trách nhiệm trong vụ va chạm đã không nhìn thấy những chiếc ô-tô mà họ đâm vào. Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Khoa học Tâm lý (Psychological Science).

Ban đầu các tình nguyện viên được cho xem một bức ảnh chụp hình một con đường, hình ảnh này định kỳ thay đổi bằng một hình ảnh giống hệt. Tại một thời điểm ngẫu nhiên trong quá trình đổi mới hình ảnh, một sự thay đổi với hình ảnh đó đã được thực hiện – các vật thể, ví dụ như được gỡ bỏ, thay đổi, hoặc thêm vào – và những thay đổi này, thậm chí là khi khá đáng kể, nhưng khó nhận thấy.

Cuộc thử nghiệm yêu cầu các đối tượng nhấn một chiếc chuông khi họ phát hiện thay đổi trong chuỗi hình ảnh. Bất ngờ, một vài tình nguyện viên đã hỏi Rensik rằng: liệu có phải là họ phải bấm chiếc chuông chỉ khi họ thực sự nhìn thấy sự thay đổi; hay họ có thể nhấn nó vào lúc họ linh cảm rằng một sự thay đổi sắp xảy ra.

Điều này đã thay đổi mạnh mẽ cuộc nghiên cứu. Rensik nhận thấy rằng không chỉ phần lớn các tình nguyện viên nhận ra được thời điểm chính xác mà thay đổi được tạo ra; mà thêm vào đó 1/3 các đối tượng nhấn nút trước khi bức hình đã được thay đổi hiện ra.

Nghiên cứu này có vẻ như đã cho thấy rằng trực giác rất có thể là một cách thức ngoại cảm để phát hiện các thay đổi rất nhỏ trong môi trường. Nó gợi ý rằng chúng ta có thể có một khả năng nhận biết các kích thích; mà thậm chí không thể phát hiện bằng các thiết bị công nghệ tiên tiến.

Trực giác bẩm sinh

Vậy thì liệu chúng ta có thể tăng cường các khả năng trực giác của mình không? Những cải thiện như thế yêu cầu những gì? Và tại sao động vật có vẻ như có trực giác tốt hơn chúng ta?

Con người cổ đại gắn bó mật thiết với các quy luật của thiên nhiên; họ rất tự hào về cái nhìn trực giác của mình. Một số người cho rằng con người hiện đại ngày càng phụ thuộc nhiều vào công nghệ; kết quả làm cho trực giác thui chột đi. Trong văn hóa hiện đại của chúng ta, các khái niệm trực giác thường bị gièm pha, để đề cao những thứ mà có thể được kiểm chứng một cách dễ dàng hơn.

Khi khoa học đang cố gắng thừa nhận khả năng đáng kinh ngạc này của con người; thì liệu việc phát triển môi trường công nghệ có làm thui chột các khả năng trực giác bẩm sinh của chúng ta hay không?

Theo Thiện An/ Nguyện Ước
Khiêm Từ biên tập

Xem thêm:

videoinfo__video3.dkn.tv||3a69a2ca2__

Ad will display in 09 seconds